Ghi chép đọc sách Truyện các ngành nghề

Đây là ghi chép đọc sách đầu tiên của mình, có lẽ sau này mình sẽ thay đổi định dạng của nó sau khi đã có nhiều kinh nghiệm hơn.

Thông tin chung

Tên sách: Truyện các ngành nghề
Tác giả: Tạ Phong Châu – Nguyễn Quang Vinh – Nghiêm Đa Văn
Nhà xuất bản Lao Động – 1977

Giới thiệu của A.N

Cuốn sách này được viết trong bối cảnh tổ quốc Việt Nam giành được độc lập chưa lâu, đang bắt đầu con đường xây dựng đất nước sau chiến tranh. Cuốn sách là tập hợp nghiên cứu của ba tác giả đối với 20 nhóm ngành nghề thủ công quan trọng của người Việt. Các tác giả cố gắng tìm ra nguồn gốc của nghề, tổ nghề, quá trình phát triển và đặt các ngành nghề vào bối cảnh xây dựng đất nước.

Chính vì các tác giả cố gắng đưa ra một cái nhìn bao quát về lịch sử của từng nghề nên từ đó mình học được nhiều điều về lịch sử, văn hoá của người Việt, những dấu tích còn lại đến giờ. Các dấu ấn văn hoá còn được giữ lại hay đã mất đi, chỉ cần được nhắc đến cũng đều là đáng quý.

Dù tựa đề là Truyện các ngành nghề nhưng cuốn sách này dạy cho ta nhiều thứ hơn là chỉ về “nghề”. Ngoài những quy trình, những kỹ thuật cứng, những thành tựu được nhắc đến, mình còn hiểu được rằng:

  • Chiến tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển và tạo ra nhiều thành tựu trong xã hội. Cuốn sách này chỉ ra cho mình một vài trong số những thành tựu đó, giúp mình trân trọng lịch sử cũng như hiểu cái giá của chiến tranh.
  • Người Việt rất tài năng, tinh tế và rất biết hưởng thụ cuộc sống, dù cho nó có khó khăn thế nào đi nữa.
  • Mối quan hệ về kinh tế giữa những nhóm người trong cùng một ngành, giữa những cộng đồng trong dây chuyền sản xuất và phân phối, ảnh hưởng của nghề nghiệp nên cuộc sống của những người thợ. Đó là kiến thức về kinh tế và xã hội của người Việt từ hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn năm trước.
  • Đời sống xưa để lại dấu vết cho chúng ta ngày nay dựa vào ca dao, dựa vào những lễ hội, những cổ vật
  • Vùng Hà Nội – Hà Tây – Bắc Ninh thật sự rất nổi bật trong cuốn sách này với sự dày đặc của các làng nghề và những tinh hoa đạt được. Mình rất hy vọng có thể tìm thấy những cuốn sách khác mạnh về các khu vực khác, mình tin là có những cuốn sách đó.

Cuối cùng, mình để niềm tự hào của các tác giả, cũng như của những con người được nhắc đến trong cuốn sách thấm sang mình. Cảm giác đó rất tuyệt!

Ghi chép chi tiết

Dưới đây là những ghi chép được tổng hợp theo những nội dung khiến cho mình chú ý, không nhất thiết phản ánh nội dung cả cuốn sách. Mình cố gắng tối giản phần quan điểm của mình trong các ghi chép này để duy trì tính trung lập.

1. Nghề đúc đồng

Người Việt cổ có hợp kim đồng độc đáo, tìm thấy ở vùng giữa Sông Hồng và Sông Mã. Người Việt cổ dùng trống đồng và trống da để tập hợp sức mạnh các bộ tộc và kích động tinh thần quyết chiến trống giặc.

Các thông tin khảo cổ cho phép ta khẳng định đúc đồng là một nghề chuyên môn khá phát triển ở địa vực cư trú của người Việt khu vực sông Hồng và sông Mã từ thời Hùng Vương.

Có sự kế thừa văn hoá dựa trên việc so sánh hoa văn từ hiện vật ở Phùng Nguyên, Gò Mun tới trống đồng Đông Sơn, khẳng định tính bản địa của trống đồng ở Việt Nam. Tính độc đáo của hợp kim đồng ở trống đồng là hàm lượng chì rất cao, có khi lên tới 26%. Hợp kim đồng còn được ứng dụng cho việc sản xuất vũ khí và công cụ lao động. Ví dụ: dao găm, lưỡi giáo / mác, mũ, yếm tâm, rìu, lưỡi cày…

Ở Cổ Loa từng phát hiện trên một vạn mũi tên đồng có kiểu dáng độc đáo: có 3 ngạnh nhon sắc có ống để cắm thanh tre làm đuôi mũi tên, có đục lỗ để buộc mồi lửa làm hoả tiễn. Khoảng những năm 1930 từng phát hiện hững chiếc ống đồng dài có khoét lỗ trên thân, có thể là bộ phận hoặc mô phỏng bộ phận nỏ thần Liên Châu. Vùng này xưa kia cũng có tục rước nỏ thần.

Tứ đại khí của Việt Nam

– Tháp Báo Thiên
– Chuông Quy Điền
– Tượng chùa Quỳnh Lâm
– Vạc Phổ Minh.

Cả bốn bảo vật đều đã bị phá huỷ do quân Minh cần chế tạo vũ khí để đàn áp kháng chiến.

2. Nghề làm gốm

Cha ông ta có nghề làm gốm từ khoảng 5000 – 6000 năm trước với đồ đất nung. Ban đầu tổ tiên ta chưa có bàn xoay để nặn gốm mà đan khuôn nan tre theo hình thù mong muốn rồi trát đất vào trong. Sau khi phơi khô thì đem nung, độ lửa chưa cao và chưa đều, đồ gốm long ra khỏi khuôn. Đây là lý do mà đồ gốm thời này có những vết nan tre từ khuôn.

Cuối thời kỳ đồ đá mới thì hình dạng đồ gốm đã cân xứng hơn, quy mô lớn hơn. Tổ tiên ta đã biết pha vụn than và vụn thạch anh vào đất để hạn chế tình trạng đất sét bị gãy nứt do co lại đột ngột khi bị nung lên ở nhiệt độ tương đối cao. Lúc này thì hoa văn hình nan được đưa vào như một dấu hiệu thẩm mĩ thay vì là dấu vết của khuôn. Có nghĩa là lúc này, ta đã có tư duy về nghệ thuật.

Di tích Cổ Loa thời An Dương Vương còn nhiều đấu vết của gạch ngói cổ xưa (khoảng 2200-2300 năm về trước), có hai giếng khơi có đặt khuôn sành 5-7 tầng, đây là giếng cho hoàng gia dùng.

Ta bắt đầu biết làm men sứ dưới thời Bắc thuộc, loại men của người Việt có sự khác biệt với men xanh của người Hán. Đồ gốm bản địa phần lớn màu men trắng ngà và các đồ đựng thường không có quai giả như gốm Hán, màu men trắng ngà này còn để lại dấu vết trên đồ gốm thời Lý. Hoa văn có sự khác biệt khi có sự xuất hiện của voi (không phổ biến trong văn hoá Trung Quốc), hoa văn trống đồng.

Nghề gốm có bước nhảy vọt dưới thời Lý, Trần.
Thời Lý: thanh, mỏng, nhẹ, men trắng ngà / vàng, hoa văn hoa sen đa dạng, men mỏng tinh xảo, có khắc chìm; đặc biệt, thời này ta làm ra men xanh trong như ngọc. Tìm thấy đồ sành sứ thời Lý ở cảng Vân Đồn, có thể ta đã xuất khẩu từ thời đó. Men xanh thời lý khác với men xanh nổi tiếng của nhà Tống dù cùng thời. Độ khó: cốt (phần xương) cần chín (lửa cao) nhưng men lại chịu lửa kém hơn; chọn loại đất sét làm cốt để thích hợp với men là điều khó.

Đồ gốm thời Trần mang đúng tinh thần dân tộc thời kỳ đó với vóc dáng to tròn, cao, vững, hoa văn cũng mang đậm tinh thần thượng võ, khoáng đạt.

Thời Lê Sơ đánh dấu sự phát triển phồn vinh của làng Bát Tràng. Thời này cũng xuất hiện nhiều đồ gốm có nước men trắng trong với nét vẽ màu xanh chàm. Thời này đồ gốm cao cấp vẫn xuất khẩu qua hải cảng Vân Đồn.

Các trung tâm làng gốm ở miền Bắc có Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng. Ở Thanh Hoá có loại đất đặc biệt làm sành đỏ làm chum lớn đựng tới mấy trăm lít. Nghệ An có nghề làm nồi đất lâu đời. Quảng Ngãi nổi tiếng với choé và độc bình. Bình Định sản xuất đôn, chậu hoa tráng men màu nổi tiếng Nam Trung bộ. Nam bộ có sành trắng tráng và sành xốp tráng men của Lái Thiêu. Đồng bào Thượng ở Tây Nguyên có gốm đen.

3. Nghề làm vải

Thời kỳ đầu của dân tộc, nhân dân lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu (sách Lĩnh Nam Chích Quái). Có lẽ khi đó các bộ tộc Việt đã bóc vỏ cây sui, đập ra cho mềm mà dùng để mặc và làm chăn. Vải chuối tiêu (tiêu cát) làm bằng sơi tước từ cây chuối tiêu có màu vàng, đẹp nhưng dễ rách.

Vải bông

Việt Nam có thể có bông từ công nguyên, trước nhiều nước khác trong khu vực.
Quy trình: Gieo hạt bông, hái bông, cán bông, kéo sợi, hồ sợi, dàn sợi lên khung cửi, dệt thành tấm vải
Các loại vải: sồi, đũi, nái, lụa, the, vân, lĩnh, nhiễu, là, sa, đoạn, gấm
Cây sui: bóc vỏ cây, giã nện cho mỏng và mềm rồi căng thẳng ra như chăn bông, làm đồ mặc rất ấm
2 loại vải này có lẽ từ trước bắc thuộc đã có, người Mường có vải tiêu cát

Vải lụa

Vải cát bá nhỏ có từ thế kỷ thứ 3, mềm mại và nhẵn nhụi, là một loại cống phẩm cho triều đình phương Bắc.
Truyền thuyết bà tổ nghề làng dệt Vạn Phúc là cô gái từ thế kỷ thứ 9.
Nghề dệt lụa phát triển mạnh dưới thời Lý, còn dùng như tiền tệ trong việc nộp thuế và trao đổi mua bán hàng hoá. Vải lụa nhiều đến mức có thể thay thế được lụa mua của nhà Tống, quan phục là lụa, gấm sản xuất trong nước.
Thời Trần cải tiến cách pha chế và nhuộm ngũ sắc.
Thời Hậu Lê có những trung tâm dệt nổi tiếng với đặc sản quý. Thời này, thợ của ta đã sản xuất được một số hàng sợi bông trông gần như dạ và nỉ hiện đại gọi là nuy đoạn hoặc thung thúc. Làng Bưởi có lĩnh hoa chanh là sản phẩm dệt tơ đen, dày dặn nhưng không thô, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm những chấm hoa mịn màng, kính đáo, kỹ thuật phức tạp. Nhuộm cũng phức tạp: nhuộm và giặt 35 lần trong 7 ngày, sau đó đem hồ để tăng sức bền của sợi rồi lấy chày ghè cho mềm. Người ta thường mua lĩnh mộc của vùng Bưởi gửi đi Sài Gòn hay Huế để nhồi tía rồi mới bán ra thị trường để mặc gọi là lĩnh tía.
Câu chuyện mình khá thích:
Giữa làng Bưởi với làng Kẻ Đơ, từ trong quá khứ xa xăm, đã có một mối quan hệ lý thú xung quanh nghề dệt. Kẻ Đơ còn có tên là làng Triều Khúc, ở gần ngã ba Thanh Xuân, trên đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Kẻ Đơ xưa là làng chuyên dệt quai thao để mắc vào những chiếc nón lá làm duyên cho các cô gái từ thôn quê đến kinh kỳ.
Các cụ già ở đất Thăng Long còn truyền lại cho con cháu rằng xưa kia, dân Kẻ Bưởi chuyên dệt lĩnh. Khi quay tơ gặp những sợi tơ sần có mốt cục (nốt cục), không dùng dệt lĩnh được nhưng chẳng bao giờ vứt bỏ đi cả. Dân Kẻ Bưởi cất dành tơ mốt cục cho một người tri kỷ trong nghề tơ sợi, đó là dân Kẻ Đơ – Triều Khúc. Một cục của làng Bưởi chỉ có trao cho các cô nàng khéo tay ở Kẻ Đơ dệt quai thao thì mới xứng.

Tổ nghề sớm nhất của nghề dệt được nhắc đến trong truyền thuyết là công chúa Thiệu Hoa con vua Hùng Vương. Làng Bùng ở Hà Tây cũ thờ ông tổ nghề dệt lượt là Phùng Khắc Khoan.

4. Nghề thêu

Ông tổ nghề thêu và làm lọng là Lê Công Hành, đền thờ ở ngõ Yên Thái, Hà Nội, đỗ tiến sĩ đời vua Lê Chân Tông. Khi đi sứ sang Trung Quốc, ông bị nhốt trên một cái đài cao, trong lúc buồn chán đã tháo hình thêu trên bức nghi môn và cái lọng trang trí để tìm hiểu cách thêu. Sau đó, ông dùng cái lọng làm dù để xuống đất. Sau này khi về nước, ông đem nghề thêu và làm lọng dạy cho dân làng Quất Động rồi nghề dần phát triển sang các làng khác. Trước đó thì nước ta đã có lọng từ thời Trần.

Nghề thêu các thế kỷ trước đó còn đơn sơ với chỉ ngũ sắc và chỉ kim tuyến, phục vụ vua quan, nhà chùa.

5. Nghề làm giấy

Từ thế kỷ 4, học giả Trung Quốc đã ghi chép về thứ giấy thơm của Giao Chỉ tên là “mật hương”, làm bằng gỗ cây trầm: màu trắng, có vân như vẩy cá, mùi rất thơm tho, bỏ xuống nước cũng không nát. Một học giả khác ghi lại tổ tiên đã biết dùng rong rêu lấy dưới biển về làm một thứ giấy gọi là “giấy trắc lý”.
Làng Dịch Vọng ở Cầu Giấy ở ngoại ô phía Tây kinh đô Thăng Long được ghi lại có nghề làm giấy từ cuối thời Lý, đầu thời Trần. Thế kỷ có một phường làm giấy khác là Yên Thái cạnh Hồ Tây. “Nhịp chày Yên Thái” chính là nhịp chày giã vỏ dó để làm giấy.

Vào thế kỷ 18, Vân Đài Loại Ngữ ghi lại dân gian dùng vỏ cây dó và cây thượng lục để làm giấy. Cây thượng lục là thứ cây hiếm nhưng có thể tạo loại giấy đặc biệt vừa bền dai, vừa trắng sáng, thuộc hạng giấy tốt nhất.

Giấy dó

Cây dó dược chuyển từ rừng trên mạn Yên Bái, Phú Thọ theo sông Lô, sông Thao về Hà Nội.
Quy trình:
Sơ chế: ngâm nước –> ngâm nước vôi loãng –> nấu cách thuỷ –> ngâm nước vôi loãng lần 2 –> bóc vỏ đen, giữ vỏ trắng.
Tinh chế: giã vỏ dó ra thành bùn trắng –> pha vào tàu seo có nhựa cây mò làm keo, trộn thành nước đặc –> tráng thành giấy –> úp vải lên –> xếp lên tập giấy ướt.
Làm khô: tập giấy ướt đủ dày –> mang đi ép cho khô –> bóc uốn (can) –> phết lên tường, là cho phẳng.
Con gái trẻ seo giấy, các bà các cô các chị can giấy. Công việc khá vất vả.

Các loại giấy khác

Giấy Nghè: có từ thời nhà Lý, trên nền có nổi lên mờ mờ hình rồng phun mây, dành riêng cho nhà vua viết các tờ sắc phong.
Dân Bắc Ninh còn làm giấy bằng vỏ cây dâu để in tranh khắc gỗ dân gian.
Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh xưa kia có 1 số phường làm được giấy nhũ tương, cầm lên tay thấy óng ánh những hạt màu bạc, vàng, dùng để viết những câu đối quý và đã có một thời gian trở thành hàng xuất khẩu.

6. Nghề làm tranh dân gian

Tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam có 2 dòng lớn: tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Không ít nhà nghiên cứu nghiêng về giả thuyết cho rằng nghề này có thể manh nha từ thời nhà Lý và phát triển tới mức thành một nghề hẳn hoi khoảng thế kỷ 15 – 16 .

Tranh Đông Hồ

Làng Đông Hồ (còn gọi là làng Hồ) ở gần sông Đuống ngày nay, thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Ngay gần làng Hồ cũng có làng Quả với nghề làm bút lông và mực đen màu tro, sản xuất từ lá tre; làng Kẻ Nía với nghề làm vàng hương, làng Đạo Tú với nghề làm chất điệp, thường cung cấp cho làng Hồ in tranh khắc gỗ mùa xuân.

Thợ thủ công in tranh Đông Hồ trong mỗi tháng của năm đều biết rõ họ phải làm gì để chuẩn bị cho mùa tranh năm tới. Tháng 3, tháng 4 âm lịch bắt đầu rục rịch chuẩn bị cho mùa tranh Tết năm sau: ra mẫu mới hoặc chỉnh lý lại các mẫu cũ; gọt, mài những tấm gỗ thị chuẩn bị khắc những ván in nét.

Để có một bản ván khắc nét bằng gỗ thị: Cây thị sau khi được hạ xuống thì để hàng năm trời cho khô đi rồi mới đem xẻ nhỏ và bào trơn để làm bản khắc nét, không bị mọt, có thể được lưu giữ tới hàng trăm năm. Một số thợ Đông Hồ cũng khắc trên gỗ mỡ, gỗ giổi – mềm mịn hơn gỗ thị. Số lượng ván in bằng số lượng màu trên tranh. Phần ván in màu phải đem ngâm vào trong nước mới khỏi bị thấm hút hoặc phai nhạt và không làm lạc mất màu sắc đã pha. Có một số thợ khắc tranh Đông Hồ không cần bản mẫu mà trực tiếp đục thẳng vào ván gỗ mà vẫn giữ đường nét mềm mại, vững vàng.

Trên nền giấy dó hoặc giấy vỏ dâu, những người làm tranh thường quét phủ lên một lượt chất điệp trắng óng ánh. Hạt dành dành hoặc hoa hoè tạo thành màu vàng đậm và sáng. Lá chàm cho màu lam để in màu lá dáy và những hình âm dương trên tranh lợn ăn lá dáy. Từ màu rỉ đồng, có thể pha chế một loạt cung bậc khác nhau của màu xanh từ hoa lý, lá mạ, màu nước biển… Đá và sỏi cho màu nâu, nâu đất hay nâu cánh kiến. Vỏ cây vang hoặc quả gấc chế ra màu đỏ gấc. Từ màu đỏ gấc, có thể có màu hoa đào, màu cánh sen, hoa hiên, đỏ điều và nhiều cung bấc khác nhau của màu đỏ. Màu đen được làm ra từ rơm cói và lá tre.

Tranh hàng Trống

Tranh Hàng Trống được ước đoán ra đời muộn hơn Đông Hồ. Ở Hàng Trống, việc tô màu do bàn tay nghệ nhân trực tiếp phụ trách trên từng tờ tranh. Các phường in tranh chỉ khắc bản gỗ nét của tranh. So với Đông Hồ, những nét vẽ của tranh Hàng Trống có phần tinh vi hơn, điêu luyện hơn, ở một số tranh thì việc sử dụng hoà sắc êm ái hơn, góp phần đem tới những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, tạo ra vẻ đa dạng của tranh dân gian khắc gỗ Việt Nam.

Các loại tranh khác

Tranh đỏ Kim Hoàng in trên giấy tầu vàng, hồng điều là loại giấy màu bán sẵn ở Hàng Ngang. Phần màu có dùng các loại: trắng, hồng, đỏ sẫm, sa thanh (xanh lơ), sa lục (xanh lá cây), tím, vàng… Tranh đỏ Kim Hoàng cần chấm vẽ phẩm nhiều, hầu như chỉ có khâu in bản nét đen là làm hàng loạt.

Nghề in mộc bản

Ván khắc để in cần gỗ thớ nhỏ, mịn để khắc được nét nhỏ.
Gỗ thị, gỗ thừng mực dẻo, mịn, bền, không mọt, có thể để được cả trăm năm.
Quy trình khắc bản in: đánh nhẵn 2 mặt –> trát bản nét –> đánh giấy mỏng, nét rõ –> khắc theo nết trên giấy.
Quy trình in: quét mực lên ván khắc ==> đặt giấy lên ==> dùng xơ mướp xoa đều ==> bóc giấy ra

Thư bản khố là kho lưu trữ ván gỗ khắc. Trong sách có ghi nơi trữ bản khắc để tiện cho việc tái bản. Bản khắc là vốn lớn nhất của nhà in.
Thợ khắc là nam, thường ở làng, chỉ đi trả bản in hoặc sửa chữa khi cần.
Thợ in là nữ, thường sống theo tổ, ở đình, chùa để tiện giao tranh.

Các nhà in có thể thuộc sở hữu của nhà nước, nhà buôn, nhà nho. Riêng nhà nho thì thường có nhà in phục vụ cho việc nghiên cứu và sáng tác.

Nghề sơn ta

Người Việt từ hơn 2 ngàn năm trước đã biết dùng sơn lên gỗ, từ thế kỷ 3-4 trước công nguyên. nghề này phát triển mạnh ở thời Lý.

Quy trình sản xuất sơn:

Lấy nhựa: khía chéo thân cây sơn –> dùng vỏ trai hứng khoảng 2-3h –> vét. Việc này phải làm xong trước khi mặt trời mọc thì chất lượng mới tốt.

Tách lớp sơn: sơn hứng được để yên 2-4 tháng cho đứng rồi lấy ra. Từ trên xuống dưới có các lớp sau:

  • Lớp mặt dầu: lỏng, nâu, tốt nhất
  • Sơn giọi: chia làm sơn nhất, sơn nhì, chiếm 30-50%
  • Sơn thịt, sơn hom
  • Nước thép

Đây là sơn sống, muốn dùng thì phải làm chín.

  • Sơn quang dầu: trộn sơn với dầu trẩu
  • Sơn mài: trộn sơn với nhựa thông, tùng hương

Quấy sơn trộn trong nhiều giờ để loại nước và kích thích oxy hoá, từ đó sơn quánh lại như kem, sơn dễ khô hơn.

Nghệ thuật sơn mài bắt đầu từ năm 1932.

Những điểm đặc biệt của sơn ta:

  • Không bị hoá chất / côn trùng phá hại
  • Chịu nóng lên đến 250 độ C
  • Bóng mịn, chịu được axit, chịu được mặn (từng tìm thấy ở thuyền đắm sản phẩm phủ sơn ta cả trăm năm dưới biển mà vẫn đẹp)
  • Cách điện

Nghề khảm trai

Có từ thời Bắc thuộc, có tiếng từ thế kỷ 3-5.

Thời Trần tặng vua Nguyên (1289): trong nhiều bảo vật có đồ khảm vàng trên nhiều chất liệu như gỗ, sừng, ngà, đồng.

Chất liệu

  • Vỏ trai:
    • Trai cánh: mỏng vỏ, sẫm màu
    • Trai thịt: trắng
    • Trai nứa: trắng, mỏng mình
    • Trai Nông cống: nhiều vân, thâm thịt
    • Cửu khổng: vân + màu sắc phong phú, dùng làm mặt nổi
  • Ốc bể – ốc xà cừ
  • Hến bể: gọi là vỏ xác, trắng như tuyết, dùng để làm diện – khuôn mặt trong chân dung.

Dụng cụ để khảm

Cưa lưỡi nhỏ, giũa nhỏ dẹt, dao tách, trổ, cặp.

Công đoạn

  • Sáng tác bản vẽ
  • Mài, cưa, đục mảnh
  • Hạ mặt: dùng sơn ta gắn mảnh vào gỗ
  • Mài, đánh bóng

Đề tài ngày xưa: Tam Quốc, ước lệ (thông – mai – cúc – trúc, ngư – tiều – canh – độc)

Làm vũ khí

Nỏ liên châu:

  • Cánh nỏ lớn, cần nhiều người để giương, trên nỏ lắp 3-5 mũi tên lớn như mũi lao
  • Trên thành Cổ Loa có những dãy nỏ, khi bắn thì tên bay như mưa

Súng thần công (ra đời thời Trần – Hồ)

  • 1390 đánh vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga có hoả pháo trên thuyền
  • Có quan xưởng đúc súng

Súng thần cơ (thời Hồ): mang vác được, chỉ cần một người là bắn được.

Lý thú về địa danh ở thăng Long:

  • Xưởng đúc súng: Lò đúc
  • Trường bắn thử: Giảng Võ đường

Ta có pháo lớn trên thành, hoả pháo trên thuyền.

Sách có ghi lại 1 số công thức pha chế đạn ghém.

Thời Trần / Hồ có đúc nhiều ( khoảng 50) cỡ súng khác nhau.

Các nghề liên quan: luyện kim, khai thác mỏ, khai thác đá.

Nghề đóng thuyền

Có từ triều Lý: có nhiều đoàn thuyền vượt biển ra đảo, đến Chiêm Thành.

Các loại thuyền có buồm rộng: thuyền đinh, thuyền mành, buồm mông, buồm cánh dơi, buồm cánh én.

Các loại thợ:

  • Thợ chuyên đóng tàu –> phường hội ở làng mạc vùng sông nước
  • Nông / ngư dân có nghề phụ

Quy trình đóng thuyền (siêu sơ bộ) do trùm phường / thợ cả chỉ huy

  • Chọn / mua / khai thác gỗ
  • Thiết kế, thi công, xảm, hun
  • Hạ thủy

Bách tác tượng là những thợ thủ công chế tạo binh khí, đóng tàu thuyền của nhà nước, trong đó bao gồm những thợ giỏi bị nhà nước trưng tập vào quan xưởng và những người bị tội đồ bắt vào làm phụ việc như nô lệ.

Chế độ nhậm công: nhà nước thuê mướn thợ tự do vào làm trong quan xưởng.

Thuyền chiến thời Trần

  • Thuyền máy thần phi
    • hình dáng như thuyền đi biển, bọc da trâu sống hoặc phên tre đan dày để đỡ đạn
    • sườn có trổ lỗ châu mai để bắn súng /tên
    • có 3 tầng, có khoang kín để tinh binh nấp, cưỡi sóng rẽ gió đi rất nhanh
  • Thuyền mẫu tử:
    • Dài 3 trượng 5 thước, nhìn như 1 chiếc thuyền
    • Thuyền mẹ: 2 trượng, dáng thuyền thúng, không mái chèo, chất đầy cỏ khô, thuốc súng, củi khô, vật dẫn lửa, mũi và nách cắm đinh sói, lưng dựng thanh gang và sắt nhọn để cột chặt vào thuyền giặc rồi đốt cùng cháy
    • Thuyền con: 1 trượng 5 thước, là thuyền chiến kiên cố, có mái chèo, có chốt gắn vào thuyền mẹ. Khi đốt thuyền mẹ thì tháo chốt rồi nhảy sang thuyền
  • Thuyền liên hoàn: là 2 thuyền hoàn chỉnh móc chặt với nhau
    • Thuyền trước: chở hỏa pháo, súng hướng về phía trước, đinh ba thép bẻ quặt
    • Thuyền sau: có mái chèo, là thuyền chiến bình thường.
    • Đụng tàu giặc: mũi móc tự rời ra thành 2 thuyền chiến độc lập
  • Thuyền mông xung: thành trì nổi trên mặt nước
    • Khoang to, nhiều tầng cao chắc chắn, tên đạn không xuyên được
    • Có lỗ châu mai để bắn súng / cung
    • Gỗ tốt, thiết kế gọn nhẹ, kiên cố, lướt nước tốt, cơ động
  • Thuyền tẩu kha: thuyền lớn, rộng, quân chèo thuyền ở khoan kín
    • Đài chỉ huy ở cuối thuyền, khá cao để tướng vừa chỉ huy vừa lái thuyền
  • Thuyền tam khai lãng: mũi nhọn, trọng tải lớn, ăn sâu khoảng 3 thước nước, đi lại dễ dàng, dùng để đổ bộ 30-50 quân lính
  • Thuyền chài
    • Chở 3 người: 1 cầm buồm, 1 chèo lái, 1 cầm súng
    • Không lo chìm đắm, dễ tiến thoái, khó bắt
  • Lâu thuyền: pháo đài kiên cố nhiều tẩng nổi trên nước
  • Đầu thuyền: thuyền chiến lớn, quanh thân vẽ thủy quái
  • Chiến thuyền hải cốt: sạp rất rộng để quân giữ đội ngũ, hai bên có những cặp chèo khỏe đâm ra trông như xương 1 con hải quái
  • Du đĩnh: 5 tầng thành cao, ddùng cho tướng chỉ huy bằng cờ lệnh

Lần đầu đọc sách với Zettelkasten

Mình đọc xong “Truyện các ngành nghề” lúc nửa đêm hôm qua, chỉ kịp chụp lại bức hình này rồi phải đi ngủ để hôm nay còn làm việc. Đọc sách kiểu này trước khi đi ngủ thì thường thần kinh sẽ bị kích thích và khó ngủ ngay được lắm nhưng mà vì chẳng có lúc nào khác nên thôi kệ đi 😅

Trong hình là chiến lợi phẩm mình thu được từ cuốn sách: 7 ghi chép chỉn chu, 27 tờ giấy ghi lại ý tưởng và mấy chỗ đánh dấu để đọc lại chi tiết khi xem lại ý tưởng.

Việc đánh dấu các đoạn quan trọng để sau này quay lại đọc thì mình đã làm từ ngày xưa rồi. Nhưng tiên quyết là để biết sách nào đánh dấu về cái gì, ở đâu mà tìm đọc lại thì phải nhớ, mà mình thì nhớ rất tệ. Thế nên khi biết về phương pháp đọc zettelkasten thì mình quyết định thử bằng Obsidian trước. Có điều, từ lâu mình cũng biết là gõ máy tính không giúp mình ghi nhớ, mọi thứ sẽ nhanh chóng trôi tuột ra ngoài. Với mình thì chỉ có bút và giấy cùng với độ sần của bề mặt khi chúng chạm vào nhau mới đủ để tạo một chút nếp nhăn trong não được. Thế nên mình quyết định thử zettelkasten truyền thống, tức là viết tay.

Khi đọc, chỗ nào đáng chú ý thì mình dán một cái nhãn để đánh dấu khu vực, sau đó dùng bút chì gạch chân những chỗ quan trọng nhất. Do đang chuẩn bị cho ý tưởng mới nên mình ghi lại chi tiết vào một tờ giấy nhớ nhỏ màu trắng để sau này sắp xếp cho dễ. Cuối cùng, sau một chương mà cảm thấy có thể tự viết lại thông tin một cách rành mạch thì có thêm 1 tờ giấy ghi lại thông tin chính để có thể hình thành hệ thống kiến thức. Các tờ giấy ghi chép này thì mình chọn loại dày dặn và có màu để có thể chia loại theo màu sắc. Mình cũng thích dùng bút mực màu để ghi chép nữa, chứ chỉ có một màu mực đen thôi thì nhàm chán quá.

Điểm quan trọng là có một quyển sổ để ghi lại mối liên kết giữa các ghi chép, điều này giúp tạo nên mạng lưới kiến thức giống như cách bộ não chúng ta ghi nhớ.

Đọc theo cách này tốn công sức hơn so với việc ngồi thư giãn theo kiểu nắng đẹp gió nhẹ có cốc trà nghi ngút khá nhiều, vì mình lúc nào cũng lăm lăm tay bút tay giấy, thấy gì hay là ghi lại. Nó thật sự giống với việc ngồi học ấy. Giá mà hồi cấp 2 cấp 3 mình học theo cách này thì chắc giờ đầu óc cũng sáng sủa hơn nhiều 😆 Nhưng ở cái thời đại mà trí não bị phân tán bởi quá nhiều thứ từ mạng xã hội, email, video… và cả những nỗi lo đời thường thì cách đọc này buộc mình phải tập trung vào cuốn sách, nghiền ngẫm từng con chữ và hấp thụ được nhiều hơn.

Cách mình thực hiện Zettelkasten có lẽ không hoàn toàn tuân thủ theo phương pháp đầy đủ về nó, nhưng mình cảm thấy là nó đủ quyết liệt để mình phải tập trung, cũng đủ gọn nhẹ để dù có đi đâu thì mình vẫn đọc theo phương pháp được. Rốt cuộc thì chỉ cần một cái phong bì với ít giấy, mấy cái bút, nhãn đánh dấu và quyển sách là đủ.

“Truyện các ngành nghề” cho mình nhiều ý tưởng để xây dựng câu chuyện mới, đặc biệt là giúp mình mường tượng được một số chi tiết về cuộc sống xa xưa của người Việt, và danh sách 6 cuốn sách khác để tìm và tham khảo. Một trong những điểm mình không ngờ tới nhất là mình có rất nhiều note liên quan đến vũ khí, quân cảng, thuyền chiến của người Việt xưa, và Cổ Loa dường như có nhiều điểm thú vị mà sau này mình nhất định phải tìm hiểu.

Lâu rồi mới đọc một cuốn sách mà có được nhiều thu hoạch như vậy. Tin là nếu tiếp tục đọc theo cách này thì sự trân trọng của mình với những cuốn sách chỉ có tăng lên thôi 🥰

Giới thiệu tiểu thuyết ngắn Năm Đó Thảo Nguyên Rợp Bóng Hoa

Tác giả: Năm Đó Thảo Nguyên Rợp Bóng Hoa
Trạng thái: Hoàn thành

TLDR: Một câu chuyện cảm hứng lịch sử đậm màu sắc sáng tạo, mang tinh thần dân tộc Việt và rất day dứt về tình người.

Lâu lâu rồi mình không giới thiệu tác phẩm của TNO. Hôm nay mang tới với mọi người một câu chuyên lấy cảm hứng từ cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 thời nhà Trần nhé.

Đây là một tiểu thuyết ngắn khoảng 16 ngàn chữ nên mình ngồi đọc một lèo trong một buổi tối hết luôn. Câu chuyện bắt đầu với Thiều, một thanh niên mới bước vào cuộc sống của người trưởng thành với chút lạc lối, mất định hướng của người trẻ tuổi. Trong một chuyến đi được tài trợ bởi chị gái, Thiều gặp lại một “cố nhân” và khám phá câu chuyện kiếp trước của mình trong mộng. Khi ấy, Thiều là một trong ba chỉ huy của Mật Vệ Quân – lực lượng bảo vệ hoàng gia – đang thực hiện nhiệm vụ mật ngay trước cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai.

Cậu chuyện dần mở ra một cách khoan thai, tác giả hiểu rõ bạn ấy đang muốn kể một câu chuyện như thế nào. “Cố nhân” trong câu chuyện có điểm thu hút rất riêng – một tướng quân nhưng cũng là một pháp sư luôn đeo mặt nạ. Cùng với Thiều, độc giả sẽ dần hiểu được cuộc chiến bảo vệ đất nước không chỉ có con người mà còn có cả những lực lượng khác âm thầm hỗ trợ và bảo vệ.

Các chi tiết lịch sử trong câu chuyện mang lại được cảm giác chân thực. Chúng không được viết ra chỉ để thể hiện tác giả có tìm hiểu lịch sử mà còn tạo ra và hòa lẫn vào bối cảnh thời đại.

Mình rất thích cách tác giả xây dựng hình ảnh cánh đồng cỏ lau không chỉ như một phần của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự đoàn kết và tinh thần bất khuất của người Việt. Biểu tượng thú vị này, đặt trong một khung cảnh hùng vĩ hòa quyện đặc điểm thiên nhiên cùng với cảnh hành động chiến đấu và phép thuật, thật sự đã tạo ấn tượng rất lớn với mình. Mình đã đọc nhiều tác phẩm xây dựng rất tốt bối cảnh Việt gần gũi, dễ mến, và mình hy vọng sẽ có nhiều cơ hội đọc được những tác phẩm mới có thể vẽ nên những bối cảnh hùng vĩ bao la, bởi thiên nhiên của chúng ta thật sự rất đa dạng.

Cách tác giả kết thúc câu chuyện cũng tròn vẹn, xứng đáng với khởi đầu của tác phẩm.

Tóm lại, đây là một câu chuyện cảm hứng lịch sử về sự dữ dội của chiến tranh, sự bất khuất của lòng yêu nước, được kể bằng một giọng kể có phần khoan thai, u buồn, và kết thúc trong cảm giác day dứt.

Mình thấy tác giả có ghi ở phần giới thiệu là tác phẩm này nằm trong một tuyển tập dường như cũng là cảm hứng lịch sử nên mình mong là sẽ sớm được đọc phần tiếp theo 😁

Đọc tại: https://truyennhaong.vn/…/trong-thoang-choc-nuoc-mat…

Review sách Hải ngoại kỷ sự

Hải Ngoại Kỷ Sự là những ghi chép của một vị lão tăng người Trung Hoa thời nhà Thanh Thích Đại Sán (hiệu Đại Sán Hán Ông) trong chuyến đi tới Thuận Quảng theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Châu năm 1695 cho tới 1696.

Những ghi chép này được chia làm 6 quyển và sau đó được chính chúa Nguyễn đề tựa. Lời giới thiệu ở ngay đầu sách là một nhận định: đây là một sử liệu quan trọng và đáng tin cậy về xã hội ở Thuận Hoá, Quảng Nam thời kỳ đó. Sách được dịch từ bản tiếng Hán do Việt Đại học Huế xuất bản lần đầu tiên năm 1963, còn bản mình đọc là bản do Alpha Books xuất bản về sau này.

Trải nghiệm của mình đối với cuốn sách này khá thú vị.

Về mặt kỳ vọng thì mình đang trong quá trình tìm kiếm tư liệu lịch sử trung đại của Việt Nam nói chung để chuẩn bị cho tác phẩm mới, tập trung vào Hội An thời kỳ hưng thịnh. Trong một loạt các đầu sách đã sưu tầm từ trước thì cuốn sách được viết từ góc độ của một người nước ngoài tới Hội An, đó là góc nhìn mà mình đang tìm kiếm, vậy là mình chọn bắt đầu với nó. Hải Ngoại Kỷ Sự quả thực đã trả lời cho mình những câu hỏi như một người nước ngoài vào nước ta như thế nào, hành trình trên biển ra sao, họ sẽ gặp những vấn đề gì khi tới đất nước chúng ta và họ quan sát, cảm nhận được gì trước cuộc sống của người Việt đàng trong khi đó.

Một trong những điểm mình đánh giá cao nhất ở cuốn sách này dựa trên mục tiêu đặt ra ban đầu là nó mô tả rất kỹ hành trình lão tăng đi từ Quảng Đông tới Hội An, quá trình lưu trú tại Thuận Hoá rồi di chuyển lại vào Hội An để lên tàu về Quảng Đông. Quá trình này có cả đường biển và đường bộ. Nó cho mình một cái nhìn rất rõ nét về việc cách đây hơn ba trăm năm, chúng ta đã di chuyển ra sao, cảnh sắc như thế nào và con người thường làm gì trong những chuyến đi đó. Cũng trong chuyến đi này, tác giả có nhắc tới cả Trường Sa và Hoàng Sa dưới chủ quyền của nước ta – biến nó thành một bằng chứng lịch sử quan trọng về chủ quyền của hai quần đảo.

Cũng qua hành trình này, mình nắm được những thông tin về việc đi biển thời đó rất hay ho. Ví dụ, trước khi vào bờ, người ta sẽ bắn pháo để báo hiệu có tàu đến. Hay là thuyền lớn vào bến thì phải buộc vào các thuyền nhỏ rồi thuyền nhỏ cùng bơi kéo thuyền lớn vào bờ dưới hiệu lệnh của “cai bá”. Thuyền muốn ra khơi thì phải đợi gió có khi là nhiều ngày, gió đúng hướng thì thuyền mới khởi hành được.

Trong thời gian Thích Đại Sán lưu trú lại Thuận Hoá, ông và đoàn tăng lữ tuỳ tùng đi qua khá nhiều nơi và ghi lại chi tiết về hành trình. Cả chúa Nguyễn và quan lại, quý tộc cũng thường ghé thăm và trao đổi thư từ, từ đó hiểu được cách người xưa giữ liên lạc và trao đổi, khuyên bảo nhau.

Ngoài những thông tin bổ ích này thì cảm xúc của mình khi đọc cuốn sách này khá là mâu thuẫn. Ngay từ đầu, người biên soạn sách đã cảnh báo về sự “tự phụ” trong góc nhìn của Thích Đại Sán. Sau khi đọc nửa quyển đầu tiên thì mình phải nói, “tự phụ” đã là sự nói giảm nói tránh rồi đó.

Trước tiên thì về phía chúa Nguyễn, trong phong thư gửi cho Thích Đại Sán, việc chúa tự xưng chúng ta là “hạ quốc” với một tăng lữ – một vị sư – thể hiện một tâm lý yếu thế trước một người không hề có sức mạnh chính trị nào. Việc chúa Nguyễn và quan lại xin chỉ dạy về đạo trị quốc, cắt đặt quan lại, tức là để một tăng lữ ngoại bang can dự vào việc trị quốc là đại kỵ chứ không chỉ đơn thuần là không nên.

Cũng phải nói, vị sư này rất có tài tạo dựng danh tiếng cho bản thân. Trên đường đi, lão tăng mang theo một vài lá cờ có tác dụng làm phép và rất tự tin khẳng định rằng nhờ những lá cờ này mà ông hoá giải được những hiện tượng tự nhiên phức tạp như gió bão, sương mù để thuyền cập bến Hội An thuận lợi. Vị lão tăng này thường tự hận bản thân có năng lực điều hoà mưa gió, thần thông quảng đại, thậm chí còn truyền dạy lại phép cho chúa Nguyễn. Mặt khác, ông lại nói về những phu thuyền như sau: “Nghĩ bọn chúng, công thuê tiền mướn chẳng bao nhiêu mà liều thân sống chết, coi sinh mạng như phù du; trông đời những kẻ tham phú quý, chịu nguy cơ, thì cũng như bọn thuỷ công kia mà thôi vậy”. Câu ấy làm mình tự hỏi, vị “cao tăng” này có bao nhiêu từ bi với người dân lam lũ?

Trong hành trình đi từ Quảng Đông tới Thuận Hoá theo lời mời của vua, lão tăng dẫn theo đoàn tuỳ tùng tới 50 người và rất nhiều đồ đạc, nhiều đến mức phải chia làm hai đoàn đi theo nhiều tàu khác nhau. Cách lão tăng đánh giá, khuyên bảo những quý tộc, quan lại dù tỏ ra khiêm tốn nhưng luôn đặt bản thân ở vị thế cao hơn để giảng dạy. Thích Đại Sán cũng không hề ngại ngùng, ngăn cản những đồ quý hiếm được chúa Nguyễn sử dụng để thết đãi, thậm chí nhận rất nhiều tiền và sản vật quý hiếm để mang về tu bổ chùa ở Trung Hoa.

Xuyên suốt cuốn sách, bạn sẽ thấy rất nhiều chiêu trò thao túng tâm lý mà “lão tăng” sử dụng trước chúa Nguyễn và quan lại, thân tộc.

Mình khá vất vả mới kết thúc nội dung chính của cuốn sách dù đã nhảy cóc qua các bài thơ, điếu, thư từ qua lại và giảng giải phật pháp do những nội dung đó không nằm trong phần nội dung mà mình tìm kiếm. Sau này khi đọc phần diễn giải của những người biên tập ở cuối cuốn sách, mình mới biết hoá ra vị Thích Đại Sán sau này đã bị quan lại và tăng lữ của nhà Thanh luận tội, trong đó có việc buôn lậu chính trong chuyến đi này. Và danh tiếng của vị lão tăng này trong giới tu hành và quan lại ở Trung Hoa thật sự tồi nhưng lại có năng lực thu hút rất nhiều người dân đi theo. Theo mình tìm hiểu thêm sau khi đọc xong sách thì cuối cùng, Thích Đại Sán qua đời trên đường bị áp giải về nguyên quán, sau nhiều lần bị quan lại nhiều nơi ở Trung Quốc xua đuổi.

Chốt lại, cuốn sách này chắc chắn rất có ích cho những ai muốn tìm hiểu về đời sống của giới vua chúa quý tộc, tăng lữ và cả phong tục của người dân ở Đàng Trong vào cuối thế kỷ 17. Nếu bạn muốn tìm hiểu về cách tăng lữ giảng về Phật pháp, có lẽ cuốn sách này cũng sẽ phần nào bổ ích. Nhưng chỉ nên coi nó là một tư liệu để giúp chúng ta có thêm thông tin về thời xưa, bởi tác giả của nó có lẽ không lẫy lừng như hình tượng mà ông ta dựng nên.

Kể chuyện Negroni – Chơi đàn

Hồi bé mình được bố mẹ cho học đàn ở nhà văn hóa thành phố. Hồi đó còn chưa đến năm 2000, mình hoàn toàn không biết ở chỗ nào có đàn piano. Thế nhưng mà cô giáo dạy mình thì là sinh viên của trường Cao đẳng nghệ thuật Quân Đội nên mình được dạy chơi piano cổ điển trên mấy cây organ 5 octave. Mà đàn thời đó thì không phải cây nào cũng có pedal, thế là mình học chơi Für Elise chỉ bằng tay 😬

Học đàn được khoảng 5 năm thì mình dừng vì phải học, sau đó thì chuyển xuống Hà Nội. Đàn vẫn mang theo dù nhà lúc đó cũng không khá giả gì. Cơ mà được vài năm thì đàn hỏng và mình không còn tập được nữa.

Việc không thể tập đàn liên tục là một trong những tiếc nuối của mình trong hành trình trưởng thành. Hơn mười năm sau khi đã đi làm và có tiền dư giả một chút thì mình mới tìm mua đàn một lần nữa. Cơ mà lúc này thì cuộc sống hàng ngày bận rộn đến mức chẳng còn thời gian và tâm trí để nghĩ đến việc đi học lại nữa. Thế là cây đàn cũng chỉ để thỉnh thoảng mổ cò dăm ba giai điệu còn nhớ được thôi.

Cho tới khi viết xong Negroni thì tình trạng vẫn y nguyên như vậy: mình có một cây piano điện tử ở nhà, bỏ không cho bụi phủ rồi lâu lâu mới lau dọn tính tang được vài nốt. Thế nên miêu tả về việc chơi đàn trong bản thảo của Negroni cho tới tuần trước vẫn rất là “chơi bằng tay” và hoàn toàn không có tâm thái của một người chơi nhạc. Trong một đoạn được thiết kế để thể hiện sự rạn vỡ của Thư ngay cả trong “đam mê”, mình viết như thế này:

Hẹn anh tới tận chiều tối mà thời gian vẫn còn nhiều, tôi quyết định xuống nhà chơi đàn một lát. Nhưng tôi cứ mãi chơi lỗi, tiếng đàn cũng khô khốc, vô hồn. Cũng may là nhóm khách buổi trưa đã đi, trong quán chẳng còn mấy người để bị tôi đuổi đi bởi tiếng đàn tồi tệ.
– Dạo này cô làm sao mà có vẻ bị xuống tay thế.
Phong vừa ngậm pick trong miệng, lúng búng nói với tôi. Cây guitar điện treo trước bụng anh ấy đung đưa sau khi vừa được choàng qua cổ. Chiều nay ban nhạc có buổi tập trong quán, anh ấy luôn là người tới sớm nhất.
– Em cũng không biết nữa, dạo này tinh thần bất ổn quá.
Anh ấy đặt tay lên vai tôi, an ủi.
– Ờ. Anh thỉnh thoảng cũng bị mất mood, đàn như dở. Một thời gian sẽ hết.
Tôi đã nhận thấy việc chơi đàn bị ảnh hưởng từ vài tuần gần đây, cũng chủ động giảm tần suất luyện tập để tinh thần thả lỏng một chút. Nhưng lần nào chạm vào đàn cũng dở tệ, tôi có phần tức giận với chính mình.

Tự mình đọc cũng thấy nó không ổn cả về trạng thái và kỹ thuật về đàn. Nhưng mà sửa như thế nào thì mình không nghĩ ra được, vậy nên chấp nhận ở mức đó.

Trong một diễn biến khác. Tầm này cuối năm ngoái, mình vô tình bắt gặp một cây piano cơ bị vứt chỏng chơ ở khu tập kết rác và có một bác nhân viên tạp vụ ở làng chơi đàn rất điệu nghệ. Cái cảm giác tự mình cũng biết là mắt mình sáng lên, vừa tò mò vừa háo hức ra hỏi han xem có thể xin về được không đến mức chồng mình gần như là sẵn sàng vác luôn về, làm mình biết là mình phải tập đàn lại thôi. Ây vậy mà sau khi vác được đàn về, mình lại cắm mặt vào công việc cho tới 2 tuần trước mình mới đi học đàn lại buổi đầu tiên.

Cô giáo dạy đàn của mình sau 2 buổi quan sát thì bảo, “tao biết mày cần cái gì rồi”. Rồi cô đưa cho mình 1 trang giáo trình chỉ dạy về cách dùng pedal của đàn.

Ngày xưa mình nghĩ chơi đàn được bằng hai tay, trái phải mỗi cái chơi một kiểu đã khó rồi. Đến khi thêm pedal vào thì mình mới nhận ra là độ khó ngày xưa của mình nó chỉ bằng một phần ba hiện thực. Chân đạp pedal cũng là chơi và nó cũng có nhịp điệu rất riêng, tách biệt với tay. Hóa ra cái cảm giác nghệ sĩ piano sống với bản nhạc của họ, đổ tất cả cảm xúc vào vài phút diễn tấu đó có một phần rất lớn của chân và pedal.

Trong buổi đầu tiên, mình hoàn toàn không bắt được nhịp của chân nên tiếng đàn rất kỳ cục. Nhấc pedal muộn quá thì âm vang chồng lên nhau, nghe rối mù. Nhấc pedal sớm quá thì tiếng vang bị gãy, nghe nó amateur và thô thiển cực kỳ. Mình nhìn cô gáo chơi thì trang nhã nhẹ nhàng mà mình ngồi vào đàn thì vụng về và giật cục, rất là buồn cười.

Thế là từ hôm đó đến giờ, ngày nào mình cũng ngồi vào đàn tập, quyết tâm tập để buổi sau cô khen tiến bộ =))) Không ngờ là trong mấy tiếng hừng hực quyết tâm này, mình đột nhiên nhận ra trạng thái mà mình vẫn tìm kiếm cho Thư.

Rồi mình ngồi vận nội công hô biến đoạn văn cũ thành thế này

Hẹn anh tới tận chiều tối mà thời gian vẫn còn nhiều, tôi quyết định xuống nhà chơi đàn một lát. Nhưng âm thanh cứ quấn bện vào nhau, rối tung thành một mớ hỗn độn rồi lại đột nhiên đứt gãy và thô kệch. Tôi thu tay lại, bàn chân chậm chạp rút khỏi pedal như một con rối gỗ. Một chút âm vang cuối cùng rơi lại trong không gian rồi im lặng.
– Tinh thần em bất ổn thế này thì nghỉ ngơi đi.
Giọng khàn đầy vết xước của Phong vang lên ngay phía sau làm tôi giật mình. Tôi nhìn anh nhả pick vào lòng bàn tay, cây guitar điện vừa choàng qua vẫn còn đung đưa trước bụng. Chiều nay ban nhạc có buổi tập trong quán, anh ấy luôn là người tới sớm nhất.
– Em cũng không biết nữa, dạo này mệt mỏi quá.
Anh ấy đặt tay lên vai tôi, an ủi.
– Mệt thì đừng nghĩ nhiều, đợi khỏe lại thì tính.
Anh nói rồi hắng giọng mấy cái. Ý nghĩ nhắc nhở anh ấy đừng hút thuốc nữa lại lướt qua, nhưng lần này tôi cố tình để nó trôi tuột đi. Chúng tôi đều là những kẻ lang thang giữa năm dòng kẻ, có lẽ điếu thuốc chính là thứ vẫn luôn kéo anh ấy đi.

Từ góc độ võ đoán của người viết thì mình cuối cùng cũng hài lòng với trại thái mà mình tìm được cho Thư. Dù cá là một nghệ sĩ piano chuyên nghiệp nhìn vào kiểu gì cũng sẽ thấy có gì đó bất ổn nhưng mà thôi, đợi vài năm nữa mình học tốt hơn thì quay lại sửa tiếp.

Kể chuyện Negroni

Mình bắt đầu viết Vị ngọt của Negroni từ hơn 3 năm trước. Trong đó có khoảng gần 2 năm gián đoạn do tập trung xây hệ thống TNO. Khoảng 2 tháng gần đây cảm hứng viết đã quay trở lại, mình vừa biên tập lại, vừa đắp nặn thêm câu chuyện cho nhân vật và xây dựng tình tiết mới. Quá trình này giúp mình đào sâu vào những khía cạnh, những chi tiết mà trước đây mình xây dựng theo cảm hứng chứ không có sự tính toán gì trước. Nhìn chung thì kiểu viết của mình là đi theo con chữ nên không có gì để phàn nàn hết. Mình chỉ nghĩ là nếu đã để con chữ dẫn dắt thì viết vài bài về cuộc hành trình này cũng khá thú vị. Chứ mà để mười, hai mươi năm sau mở file ra đọc lại từ đầu thì sợ là mình đã quên hết vì sao câu chuyện lại như vậy rồi hehe

Nội dung ban đầu của Negroni (mình hay gọi tắt như vậy) nhìn chung là chẳng có liên quan gì đến câu chuyện hiện tại cả. Bản thảo đầu tiên mà mình viết là “Đêm dài chờ hừng đông” – một truyện ngắn xoay quanh Vũ, người chị họ của Thư, trong một đêm dài ở cứ điểm Dawn của cô ấy. Mình càng viết lại càng cảm thấy cô ấy không cần một câu chuyện dài để nói thay điều gì. Không phải vì Vũ không đặc biệt, mà là vì cô ấy rất mạnh mẽ và có lẽ cũng không cần nhiều sự đồng cảm lắm. Nhưng Dawn và câu chuyện của những con người không ngủ thì lại quá hấp dẫn và mình không thể từ bỏ nó. Vậy là Thư – nữ chính của Negroni – ra đời.

Nếu Vũ là một phụ nữ hiện đại, cứng rắn, mạnh mẽ và làm chủ mọi thứ thì Thư là một thái cực hoàn toàn trái ngược. Cô ấy là tập hợp của rất nhiều mâu thuẫn, một cô gái kiên cường và cũng rất yếu đuối, làm chủ mãnh liệt nhưng cũng bất lực không lối thoát, đáng yêu nhưng cũng nguy hiểm theo cách riêng của cô ấy. Thư là một hỗn hợp của tâm hồn trong sáng hoà lẫn với một thứ ma thuật đen tối mà nhiều lúc chính mình cũng hoang mang tự hỏi: “cô ấy là như thế này thật à”?

Để tóm tắt câu chuyện của Thư mà mình đang cố gắng theo dấu thì có lẽ đó là hành trình đi tìm điểm cân bằng trong tâm hồn và trong cuộc sống của cô ấy. Điểm cân bằng thì có gì quan trọng mà phải dành cả trăm ngàn chữ cho nó nhỉ? Đối với Thư thì đó có lẽ là cảm giác mỗi sớm mai thức dậy, cô mong đợi một ngày mới và biết rằng sẽ có một niềm vui đang đợi cô ở đâu đó ngoài kia. Đó có lẽ cũng sẽ là thỉnh thoảng mới cố thức đêm để đạt được một phần thưởng nào đó chứ không phải thao thức và trơ trọi đến mức né tránh giấc ngủ của mình. Đó có lẽ cũng là việc cô có thể thoải mái ra đường mà không cần đắp lên mình một lớp trang điểm chỉ để nguỵ trang bản thân.

Câu chuyện của Thư chẳng nhẹ nhàng chút nào. Có những lúc mình viết xong lại thẫn thờ mất mấy hôm rồi tâm trạng mới trở lại bình thường. Được cái là hành trình này cũng không thiếu ngọt ngào, bởi dù sao thì câu chuyện ban đầu cũng được định hướng là một câu chuyện tình yêu.

Vị ngọt của Negroni

Negroni là một loại cocktail cổ điển. Bạn bị màu hổ phách đỏ sậm cuốn hút từ cái nhìn đầu tiên, mạnh mẽ và kích thích, lịch lãm mà lại thời thượng. Vị ngọt bao bọc lấy vị đắng, cồn tinh khiết hòa với thảo mộc và hoa quả. Tất cả tạo ra một sự đắng cay ngọt ngào trộn lẫn cứ quẩn quanh trên đầu lưỡi. Có một điều không bao giờ thay đổi, sớm muộn thì bạn cũng sẽ bị độ cồn bạo liệt của nó hạ gục.

Từng có người nói Negroni giống như một bát thuốc bắc đắng đến cùng cực, đắng đến khổ sở, chẳng ai lại muốn nuốt nó xuống. Thế mà chẳng hiểu vì sao, hằng đêm tôi vẫn nâng ly với chính mình. Có lẽ vị giác của tôi bị khuyết thiếu, tôi vẫn chẳng thể gọi đây là một vị đắng chát đúng nghĩa. Vị ngọt vẫn cứ vấn vít đâu đó giống như muốn nói rằng tôi mãi mãi sẽ không thể nếm được vị “khổ” thật sự.

Đôi khi tôi tự hỏi, liệu có ai đồng ý chia sẻ vị đắng này cùng tôi? Hay có ai pha giúp tôi một ly Negroni ngọt ngào êm dịu?

—–

Vị ngọt của Negroni
Thể loại: Tiểu thuyết tâm lý, hiện thực
Trạng thái: Đã hoàn thành
Đăng tải tại TNO https://truyennhaong.vn/tac-pham/vi-ngot-cua-negroni

Giới thiệu tiểu thuyết Nhạn xa chen bóng cây tàn

Tác giả: Bách Huệ
Trạng thái: Đang sáng tác

TLDR; Nếu bạn đang tìm một chuyện tình làng quê thời Pháp thuộc, nơi tình yêu bị giam hãm bởi thân phận, nơi chính đương sự phải chậm rãi lần mò trong mớ cảm xúc cấm kỵ, được kể bằng giọng văn tinh tế và dễ chịu thì đây chính là câu chuyện dành cho bạn.

Con vua rồi lại làm vua

Con nhà kẻ khó mò cua tối ngày…

Câu chuyện bắt đầu bằng một câu ca dao, thân quen như truyện mình đọc hồi bé. Nhưng mà ca dao ấy mà, thường thì buồn lắm, thảm lắm. Thế là vừa mới bước vào câu chuyện, chưa cần đọc đến đoạn tiếp theo thì mình đã bắt đầu kỳ vọng về một chuyện tình đẹp đẽ mà da diết, nhất là khi cái tên kết thúc bởi một chữ “tàn”. Nhưng mà hình như mình có nhắc ở một bài viết khác, mình thuộc nhóm có sở thích đọc truyện để hành xác cho nên là oklah, tui dấn thân!

Chuyện tình này nói về Nhạn – một con ở trong nhà ông phú Tâm, và cậu ấm Đăng – con trai cả của ông phú. Éo le thay, nó bắt đầu bằng sự ra đi của ông nội cậu ấm, ông phú Bảo, và thằng hầu của ông ta, cha của Nhạn. Trong một lần bị giặc cướp tập kích, cha của Nhạn lao ra chắn hai viên đạn cho chủ nhưng đạn cũng đã găm vào tim cụ Bảo, vậy là hai con người cùng lần lượt ra đi. Ấy vậy mà vì cái lý lẽ đảo điên của gia chủ, lại thành ra là kẻ tớ làm liên luỵ chủ. Cuối cùng, “Hai người chết nhưng chỉ có một đám tang.”

Người lớn lý lẽ thế nào là việc của người lớn. Còn cậu Đăng sớm chiều vẫn được Nhạn chăm sóc, được học chữ của quân tử, thì cậu suy nghĩ thế nào lại là việc của cậu. Cậu biết, đứa ở nhà cậu vừa mất cha, nó oan ức, nó buồn thương, mà cậu thì hắn là áy náy nên muốn bù đắp cho nó. Hay còn gì khác? Ai mà biết được.

Nhưng mà cái ý tưởng bù đắp đó dẫn tới một thỉnh cầu mà cậu chẳng thể hiểu nổi. Cậu ấm nhà giàu việc gì cũng được hầu tận răng như cậu thì sao biết được nỗi lo của con ở, hiểu sao được cái nỗi sợ “trần sao âm vậy” – sợ rằng chết đi rồi vẫn phải làm con ở cho nhà cậu là cái lý gì?!

Nhưng rồi cậu vẫn giúp nó. Để rồi cậu cứ hết lần này đến lần khác thấy ánh sáng toả ra từ đôi mắt trong veo của nó, và cả những sợi tóc cứ lay động trong cõi lòng cậu.

Một trong những thế mạnh nổi bật của Bách Huệ là ngôn ngữ rất tinh tế. Từng câu chữ trải ra có thể mềm như lụa nhưng cũng có thể sắc như dao. Đằng sau những con chữ tinh tế, đôi khi còn dịu dàng đó lại là rất nhiều hiện thực phũ phàng và đau đớn. Tác giả rất biết tiết chế tình tiết và câu chữ, vừa cho độc giả cảm nhận được không khí của thời cuộc nhưng lại không nhấn chìm họ bằng những tiểu tiết mang tính thể hiện hơn là mang lại giá trị biểu đạt. Thế nên là truyện của Bách Huệ luôn rất dễ chịu và có thể khiến cho mình tự hỏi, còn ý nghĩa gì khác đằng sau những con chữ này không?

Nếu nói điểm mình thích nhất trong tiểu thuyết này cho đến giờ thì có lẽ đó chính là sự “kéo – đẩy” giữa các nhân vật. Nó không chỉ xuất hiện giữa cậu Đăng và Nhạn, mà còn giữa cậu Đăng và bà Liễu – mẹ cậu, giữa bà Liễu và bà Lan – mẹ Nhạn. Một cậu ấm, một bà lớn nhà giàu, một con ở: ngôn ngữ của họ rất khác nhau, nhưng mình vẫn dễ dàng nhận ra sự “ý tại ngôn ngoại” trong lời nói của họ – một cách nói chuyện rất Việt, rất xưa. Mà vì sao người ta lại cứ phải nói vòng, nói chệch với nhau như thế? Ấy là vì cái mối tình vẫn còn đang nảy nở giữa hai đứa trẻ kia, dù chúng còn chưa ý thức được, thì đã không qua nổi mắt của hai người mẹ đau đáu vì con rồi.

Lúc mình viết những dòng này thì truyện mới đăng tới chương 17, mình đoán là còn một con đường dài lắm. Nhưng mình thì không ngại khoe rằng mình là fan của Bách Huệ từ ngày tác giả xuất hiện tại TNO với truyện ngắn “Hỏi ý trời”. Vậy nên là gặp truyện nào mình sẽ đọc truyện đó, ít nhất là để hiểu sơ sơ tác giả đang viết gì. Chứ mà nói đọc xong hết tất cả thì còn tuỳ cơ duyên. Lắm khi nhiều chuyện xen vào, chỉ mới kịp bắt đầu mà chưa kịp kết thúc.

Tóm lại, đây là một câu chuyện tình ngây thơ mà lại cấm kỵ, bối cảnh làng quê thời kỳ giao thoa giữa Nho học và Tây học cũng được khắc hoạ rất khéo léo. Nếu bạn có hứng thú với thời kỳ cận đại, với chuyện tình bi kịch, mình cá là bạn sẽ không bị thất vọng với tiểu thuyết này đâu.

Nếu bạn đã đọc Nhạn xa chen bóng cây tàn thì chia sẻ cảm nghĩ với mình nhé!

Đọc tại: https://truyennhaong.vn/tac-pham/nhan-xa-chen-bong-cay-tan

Review truyện ngắn Rối bóng

Hôm nay mình mới lại chạm vào Trăm Năm Một Bước Hải Hà để đọc nốt Rối bóng – truyện ngắn của tác giả Tân Thời.

Mình nhớ là khi Hải Hà mới ra mắt thì có rất nhiều bạn đã review truyện ngắn này và có khá nhiều ý kiến trầm trồ về plot twist mà tác giả cài cắm. Khi mà mình đến rất là muộn so với cuộc chơi thì hẳn là phải nghĩ ra một cái gì đó lạ lạ một chút, nếu không thì đôi khi lại chỉ nhắc lại những điều các reviewer đã nhắc đến, nhàm chán lắm. Vậy hôm nay xin được mạn phép bê công việc chính của mình vào bài cảm nhận – Rối bóng dưới góc nhìn của một Product Manager.

Góc nhìn của bài viết hoàn toàn đến từ khía cạnh kinh doanh, công việc nên nó không có sự lãng mạn và nghệ thuật. Mình đang phân tích với con mắt rất trần tục và hơi “con buôn” – những chi tiết mà tác giả thể hiện được dời sang một “vũ trụ” khác để xây dựng góc nhìn này. Vậy nên có thể bài phân tích này sẽ gây khó chịu cho một số bạn tìm kiếm một bài review đậm chất nghệ thuật nhé.

OK vào bài nào.

Trong nửa đầu câu chuyện khi mà Tấm và mẹ Đồng xuất hiện qua cảnh mời khách, dệt vải, têm trầu và sau đó là sự chuẩn bị cực kỳ kỹ lưỡng cho cuộc gặp đầu tiên với đức Kim thượng, có một ý nghĩ cứ lảng vảng trong đầu mình – hẳn là Tân Thời nên đi làm marketing. Mình cũng không rõ tác giả làm nghề gì, nhưng đường đi nước bước của mẹ Đồng, theo con mắt của mình, là một kế hoạch marketing hoàn hảo.

Từ việc mời khách tới chơi nhà, tạo ra danh tiếng được đồn khắp gần xa về một cô Tấm vừa đẹp người, đẹp nết, lại đa tài: biết têm trầu, biết dệt vải, mà lại còn được học hành. Mình cá là đi trên đường, túm một người lại hỏi, có khi sẽ có kha khá người nói “à! tôi có nghe về cô ấy”. Rồi những người thân cận xung quanh Kim thượng cũng biết về cô Tấm, về một tài nữ mà hẳn là sẽ rất xứng đôi với đức Vua. Vậy là chiến lược bước xây dựng nhận diện thương hiệu đã thành công.

Thế rồi một ngày kia, khi đức Kim thượng thật sự đi qua chốn này mà gặp cô thôn nữ hái dâu đẹp như tiên nữ, lại có cốt cách thanh cao, ngượng ngùng mà lại ngưỡng mộ từ xa – đức lang quân nào mà không mê luyến?!

Khi đọc đến đoạn này, mình không khỏi nghĩ: đây chẳng phải là moment of truth cực kỳ sâu sắc và xúc động mà các chiến lược marketing vẫn thường hướng tới à?! Thông tin về một sản phẩm nào đó đã vang vọng xa gần, nhưng không đủ để khách hàng chú ý tới. Nhưng vào khoảnh khắc sản phẩm đó xuất hiện trước mặt lần đầu tiên, những phong thanh trước kia lập tức được tập trung lại cùng với cả một trải nghiệm mà khách hàng chưa bao giờ từng thấy, và thế là họ nói: tôi muốn!

Tấm được đưa vào cung, trở thành phu nhân quyền quý đúng như cách mà nàng đã được định vị. Và rồi nàng gặp Hoàng hậu. Và đột nhiên, câu chuyện mở ra theo cách mà có lẽ không độc giả nào ngờ tới. Thì ra Hoàng hậu cũng đã từng được mẹ Đồng rèn giũa.

Ồ! Đến chỗ này thì mình không thể không thốt lên một tiếng. Mẹ Đồng từng có một sản phẩm hoàn hảo – bản thân bà – vừa có dung mạo lại có tài hoa, là phối ngẫu trời ban cho đức Vua. Nhưng chẳng may, vì một tai nạn mà bà bị huỷ dung nhan, và sản phẩm hoàn hảo đã không còn hoàn hảo nữa. Mẹ Đồng có một nỗi ám ảnh – tạo ra một người phụ nữ hoàn hảo. Vậy là bà tìm kiếm những cô gái có tiềm năng để bồi dưỡng họ từ dung nhan, chải chuốt cho tới tài năng và cả thiện tâm.

Nhưng có một điều mà có lẽ mẹ Đồng không hiểu được, một điều mà chúng ta vẫn thường nhắc tới: làm gì cũng phải có thiên thời – địa lợi – nhân hoà. Bản thân bà là một người may mắn khi có dung mạo, được sinh ra trong gia đình quyền quý để được học hành, có được tài năng xuất chúng. Nhưng chính bà rồi cũng vì con tạo xoay vần mà đánh mất đi dung mạo đó thôi?! Khi bà tìm thấy Hoàng hậu, và cả Tấm sau này, họ luôn thiếu một thứ gì đó – một vách ngăn họ chạm tới sự hoàn hảo mà bà từng có, dù cho bà có bỏ nhiều công bồi dưỡng.

Mẹ Đồng giống như một nhà khởi nghiệp đã từng may mắn làm ra được sản phẩm đầu tiên thành công một cách hoàn hảo, nhưng nó lại lụi tàn quá nhanh. Rồi sau đó, bà miệt mại tạo ra những bản sao khác nhưng bởi giờ đây vận may đã không còn, mọi bản sao đều không hoàn chỉnh. Trong thực tế, có khá nhiều trường hợp khởi nghiệp như vậy. Đôi khi, ai đó thành công bởi họ có một ý tưởng tốt, có một đội ngũ giỏi, và cả sự may mắn bởi thị trường ở ngay thời điểm họ xuất hiện đang tạo ra những điều kiện phù hợp để họ thành công. Nhưng cùng là ý tưởng đó, đội ngũ đó, ở một thời điểm khác, do đã đánh mất thời điểm vàng, lại không thể thành công được nữa cho dù đội ngũ lần này còn nhiều kinh nghiệm hơn.

Ấy là để nói, thành công nào cũng cần được trân trọng và gìn giữ, bởi chẳng biết lần sau ta có chạm tới thành công tương đương nữa hay không.

Chà! Đọc đến đây thì có thể sẽ có bạn cảm thấy vì sao những con người, những người phụ nữ tài mạo song toàn qua lời lẽ của mình lại biến thành những sản phẩm vô tri vô giác, vì sao lại coi thường họ như vậy. Thì mình xin khẳng định là mình không coi thường họ nhé. Đây đơn giản là một phép liên tưởng lớn mà mình có được khi đọc câu chuyện mà thôi.

Và mặc dù dường như mình đã tiết lộ rất nhiều nội dung của Rối bóng thì cũng cần nói thêm, đây không phải là toàn bộ câu chuyện. Còn khá nhiều điểm hay ho mà tác giả giấu trong những câu chữ nhưng mình sẽ không liệt kê hết, vì như thế thì đâu còn gì để tò mò nữa đâu?!

Truyện ngắn Rối bóng (sách Trăm năm một bước hải hà)- https://truyennhaong.vn/san-pham/TNMBHH

Giới thiệu tiểu thuyết Nho và An

TIỂU THUYẾT NGẮN “NHO VÀ AN”

Tác giả: soribe

Đọc tại: https://truyennhaong.vn/tac-pham/nho-va-an

Trạng thái: Đã hoàn thành

Giới thiệu

Thích một ai đó là một cảm giác tôi chưa từng trải qua, nhưng khi nó đến, tôi biết nó là gì.
Tôi cảm nhận được Diễm An giật thót mình, em nhìn xuống, và nhận ra ngón út của chúng tôi đang đặt lên nhau.

—-

Mình thường không đọc truyện LGBTQ+ nhưng nếu gặp một câu chuyện đủ thú vị thì mình vẫn sẽ tò mò. Hôm nay mình gặp tiểu thuyết ngắn có tên “Nho và An” và quả thật là đã có một bất ngờ nho nhỏ với câu chuyện này.

Câu chuyện có mười chương, tổng cộng khoảng 30k chữ. Chuyện kể về Nho và An – hai cô gái lớn lên bên nhau từ khi còn nhỏ. An đi du học và tưởng như tình bạn khăng khít thuở bé đã không còn như xưa sau nhiều năm xa cách. Nhưng khi An trở về trong một chuyến thăm nhà và chủ động tới gặp Nho, tình bạn của họ vẫn rất thân thiết, hay là còn pha trộn thêm những cảm xúc khác? Sự thân thiết, cảm xúc của họ được tích luỹ qua nhiều năm rồi dần nhen nhóm khi gặp lại. Nếu dùng từ gì đó để miêu tả tình cảm đó thì mình đoán sẽ là nhẹ nhàng, thiết tha, dai dẳng.

Câu chuyện ở đây không chỉ nói về tình cảm của hai người con gái mà còn có cả sự yêu thương, thấu hiểu giữa những thành viên trong gia đình. Dù là bố mẹ Nho với những kỳ vọng, với những bao bọc có những khi gây ngột ngạt cho đứa con gái duy nhất; hay là của bố và anh trai An với đứa em út được yêu thương. Giọng kể của tác giả nhẹ nhàng như thể mọi thứ nghiễm nhiên là như thế, nhưng cái cách họ kỳ vọng, giận nhau, thương nhau rồi làm hoà với nhau vẫn rất đáng để cho ta ngẫm nghĩ lại trong một lúc yên tĩnh nào đó.

Giọng văn của tác giả rất dịu dàng, nhỏ nhẹ như giọng nói của những cô gái Nam bộ. Tác giả chọn lọc tình tiết để triển khai khéo, không ham nhiều làm câu chuyện thêm rối. Bạn ấy không tham tả nhưng vẫn nhanh chóng vẽ nên chân dung và tính cách của nhân vật một cách chân thực như cách Nho hay mang theo kẹo để cho tụi nhỏ, hay như những câu thoại pha tiếng Pháp của An đúng như thói quen một du học sinh lâu năm. Cách dựng thoại cực tự nhiên cũng là một điểm cộng lớn đối với mình.

Mình đọc một lèo mười chương khá nhanh, rất dễ chịu. Nếu độc giả nào muốn tìm kiếm một câu chuyện dịu dàng, không nặng nề mà vẫn lưu lại những điểm nhấn trong lòng thì có thể thử lựa chọn tiểu thuyết ngắn này nhé.