Ghi chép đọc sách Truyện các ngành nghề
Đây là ghi chép đọc sách đầu tiên của mình, có lẽ sau này mình sẽ thay đổi định dạng của nó sau khi đã có nhiều kinh nghiệm hơn.
Thông tin chung
Tên sách: Truyện các ngành nghề
Tác giả: Tạ Phong Châu – Nguyễn Quang Vinh – Nghiêm Đa Văn
Nhà xuất bản Lao Động – 1977
Giới thiệu của A.N
Cuốn sách này được viết trong bối cảnh tổ quốc Việt Nam giành được độc lập chưa lâu, đang bắt đầu con đường xây dựng đất nước sau chiến tranh. Cuốn sách là tập hợp nghiên cứu của ba tác giả đối với 20 nhóm ngành nghề thủ công quan trọng của người Việt. Các tác giả cố gắng tìm ra nguồn gốc của nghề, tổ nghề, quá trình phát triển và đặt các ngành nghề vào bối cảnh xây dựng đất nước.
Chính vì các tác giả cố gắng đưa ra một cái nhìn bao quát về lịch sử của từng nghề nên từ đó mình học được nhiều điều về lịch sử, văn hoá của người Việt, những dấu tích còn lại đến giờ. Các dấu ấn văn hoá còn được giữ lại hay đã mất đi, chỉ cần được nhắc đến cũng đều là đáng quý.
Dù tựa đề là Truyện các ngành nghề nhưng cuốn sách này dạy cho ta nhiều thứ hơn là chỉ về “nghề”. Ngoài những quy trình, những kỹ thuật cứng, những thành tựu được nhắc đến, mình còn hiểu được rằng:
- Chiến tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển và tạo ra nhiều thành tựu trong xã hội. Cuốn sách này chỉ ra cho mình một vài trong số những thành tựu đó, giúp mình trân trọng lịch sử cũng như hiểu cái giá của chiến tranh.
- Người Việt rất tài năng, tinh tế và rất biết hưởng thụ cuộc sống, dù cho nó có khó khăn thế nào đi nữa.
- Mối quan hệ về kinh tế giữa những nhóm người trong cùng một ngành, giữa những cộng đồng trong dây chuyền sản xuất và phân phối, ảnh hưởng của nghề nghiệp nên cuộc sống của những người thợ. Đó là kiến thức về kinh tế và xã hội của người Việt từ hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn năm trước.
- Đời sống xưa để lại dấu vết cho chúng ta ngày nay dựa vào ca dao, dựa vào những lễ hội, những cổ vật
- Vùng Hà Nội – Hà Tây – Bắc Ninh thật sự rất nổi bật trong cuốn sách này với sự dày đặc của các làng nghề và những tinh hoa đạt được. Mình rất hy vọng có thể tìm thấy những cuốn sách khác mạnh về các khu vực khác, mình tin là có những cuốn sách đó.
Cuối cùng, mình để niềm tự hào của các tác giả, cũng như của những con người được nhắc đến trong cuốn sách thấm sang mình. Cảm giác đó rất tuyệt!
Ghi chép chi tiết
Dưới đây là những ghi chép được tổng hợp theo những nội dung khiến cho mình chú ý, không nhất thiết phản ánh nội dung cả cuốn sách. Mình cố gắng tối giản phần quan điểm của mình trong các ghi chép này để duy trì tính trung lập.
1. Nghề đúc đồng
Người Việt cổ có hợp kim đồng độc đáo, tìm thấy ở vùng giữa Sông Hồng và Sông Mã. Người Việt cổ dùng trống đồng và trống da để tập hợp sức mạnh các bộ tộc và kích động tinh thần quyết chiến trống giặc.
Các thông tin khảo cổ cho phép ta khẳng định đúc đồng là một nghề chuyên môn khá phát triển ở địa vực cư trú của người Việt khu vực sông Hồng và sông Mã từ thời Hùng Vương.
Có sự kế thừa văn hoá dựa trên việc so sánh hoa văn từ hiện vật ở Phùng Nguyên, Gò Mun tới trống đồng Đông Sơn, khẳng định tính bản địa của trống đồng ở Việt Nam. Tính độc đáo của hợp kim đồng ở trống đồng là hàm lượng chì rất cao, có khi lên tới 26%. Hợp kim đồng còn được ứng dụng cho việc sản xuất vũ khí và công cụ lao động. Ví dụ: dao găm, lưỡi giáo / mác, mũ, yếm tâm, rìu, lưỡi cày…
Ở Cổ Loa từng phát hiện trên một vạn mũi tên đồng có kiểu dáng độc đáo: có 3 ngạnh nhon sắc có ống để cắm thanh tre làm đuôi mũi tên, có đục lỗ để buộc mồi lửa làm hoả tiễn. Khoảng những năm 1930 từng phát hiện hững chiếc ống đồng dài có khoét lỗ trên thân, có thể là bộ phận hoặc mô phỏng bộ phận nỏ thần Liên Châu. Vùng này xưa kia cũng có tục rước nỏ thần.
Tứ đại khí của Việt Nam
– Tháp Báo Thiên
– Chuông Quy Điền
– Tượng chùa Quỳnh Lâm
– Vạc Phổ Minh.
Cả bốn bảo vật đều đã bị phá huỷ do quân Minh cần chế tạo vũ khí để đàn áp kháng chiến.
2. Nghề làm gốm
Cha ông ta có nghề làm gốm từ khoảng 5000 – 6000 năm trước với đồ đất nung. Ban đầu tổ tiên ta chưa có bàn xoay để nặn gốm mà đan khuôn nan tre theo hình thù mong muốn rồi trát đất vào trong. Sau khi phơi khô thì đem nung, độ lửa chưa cao và chưa đều, đồ gốm long ra khỏi khuôn. Đây là lý do mà đồ gốm thời này có những vết nan tre từ khuôn.
Cuối thời kỳ đồ đá mới thì hình dạng đồ gốm đã cân xứng hơn, quy mô lớn hơn. Tổ tiên ta đã biết pha vụn than và vụn thạch anh vào đất để hạn chế tình trạng đất sét bị gãy nứt do co lại đột ngột khi bị nung lên ở nhiệt độ tương đối cao. Lúc này thì hoa văn hình nan được đưa vào như một dấu hiệu thẩm mĩ thay vì là dấu vết của khuôn. Có nghĩa là lúc này, ta đã có tư duy về nghệ thuật.
Di tích Cổ Loa thời An Dương Vương còn nhiều đấu vết của gạch ngói cổ xưa (khoảng 2200-2300 năm về trước), có hai giếng khơi có đặt khuôn sành 5-7 tầng, đây là giếng cho hoàng gia dùng.
Ta bắt đầu biết làm men sứ dưới thời Bắc thuộc, loại men của người Việt có sự khác biệt với men xanh của người Hán. Đồ gốm bản địa phần lớn màu men trắng ngà và các đồ đựng thường không có quai giả như gốm Hán, màu men trắng ngà này còn để lại dấu vết trên đồ gốm thời Lý. Hoa văn có sự khác biệt khi có sự xuất hiện của voi (không phổ biến trong văn hoá Trung Quốc), hoa văn trống đồng.
Nghề gốm có bước nhảy vọt dưới thời Lý, Trần.
Thời Lý: thanh, mỏng, nhẹ, men trắng ngà / vàng, hoa văn hoa sen đa dạng, men mỏng tinh xảo, có khắc chìm; đặc biệt, thời này ta làm ra men xanh trong như ngọc. Tìm thấy đồ sành sứ thời Lý ở cảng Vân Đồn, có thể ta đã xuất khẩu từ thời đó. Men xanh thời lý khác với men xanh nổi tiếng của nhà Tống dù cùng thời. Độ khó: cốt (phần xương) cần chín (lửa cao) nhưng men lại chịu lửa kém hơn; chọn loại đất sét làm cốt để thích hợp với men là điều khó.
Đồ gốm thời Trần mang đúng tinh thần dân tộc thời kỳ đó với vóc dáng to tròn, cao, vững, hoa văn cũng mang đậm tinh thần thượng võ, khoáng đạt.
Thời Lê Sơ đánh dấu sự phát triển phồn vinh của làng Bát Tràng. Thời này cũng xuất hiện nhiều đồ gốm có nước men trắng trong với nét vẽ màu xanh chàm. Thời này đồ gốm cao cấp vẫn xuất khẩu qua hải cảng Vân Đồn.
Các trung tâm làng gốm ở miền Bắc có Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng. Ở Thanh Hoá có loại đất đặc biệt làm sành đỏ làm chum lớn đựng tới mấy trăm lít. Nghệ An có nghề làm nồi đất lâu đời. Quảng Ngãi nổi tiếng với choé và độc bình. Bình Định sản xuất đôn, chậu hoa tráng men màu nổi tiếng Nam Trung bộ. Nam bộ có sành trắng tráng và sành xốp tráng men của Lái Thiêu. Đồng bào Thượng ở Tây Nguyên có gốm đen.
3. Nghề làm vải
Thời kỳ đầu của dân tộc, nhân dân lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu (sách Lĩnh Nam Chích Quái). Có lẽ khi đó các bộ tộc Việt đã bóc vỏ cây sui, đập ra cho mềm mà dùng để mặc và làm chăn. Vải chuối tiêu (tiêu cát) làm bằng sơi tước từ cây chuối tiêu có màu vàng, đẹp nhưng dễ rách.
Vải bông
Việt Nam có thể có bông từ công nguyên, trước nhiều nước khác trong khu vực.
Quy trình: Gieo hạt bông, hái bông, cán bông, kéo sợi, hồ sợi, dàn sợi lên khung cửi, dệt thành tấm vải
Các loại vải: sồi, đũi, nái, lụa, the, vân, lĩnh, nhiễu, là, sa, đoạn, gấm
Cây sui: bóc vỏ cây, giã nện cho mỏng và mềm rồi căng thẳng ra như chăn bông, làm đồ mặc rất ấm
2 loại vải này có lẽ từ trước bắc thuộc đã có, người Mường có vải tiêu cát
Vải lụa
Vải cát bá nhỏ có từ thế kỷ thứ 3, mềm mại và nhẵn nhụi, là một loại cống phẩm cho triều đình phương Bắc.
Truyền thuyết bà tổ nghề làng dệt Vạn Phúc là cô gái từ thế kỷ thứ 9.
Nghề dệt lụa phát triển mạnh dưới thời Lý, còn dùng như tiền tệ trong việc nộp thuế và trao đổi mua bán hàng hoá. Vải lụa nhiều đến mức có thể thay thế được lụa mua của nhà Tống, quan phục là lụa, gấm sản xuất trong nước.
Thời Trần cải tiến cách pha chế và nhuộm ngũ sắc.
Thời Hậu Lê có những trung tâm dệt nổi tiếng với đặc sản quý. Thời này, thợ của ta đã sản xuất được một số hàng sợi bông trông gần như dạ và nỉ hiện đại gọi là nuy đoạn hoặc thung thúc. Làng Bưởi có lĩnh hoa chanh là sản phẩm dệt tơ đen, dày dặn nhưng không thô, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm những chấm hoa mịn màng, kính đáo, kỹ thuật phức tạp. Nhuộm cũng phức tạp: nhuộm và giặt 35 lần trong 7 ngày, sau đó đem hồ để tăng sức bền của sợi rồi lấy chày ghè cho mềm. Người ta thường mua lĩnh mộc của vùng Bưởi gửi đi Sài Gòn hay Huế để nhồi tía rồi mới bán ra thị trường để mặc gọi là lĩnh tía.
Câu chuyện mình khá thích:
Giữa làng Bưởi với làng Kẻ Đơ, từ trong quá khứ xa xăm, đã có một mối quan hệ lý thú xung quanh nghề dệt. Kẻ Đơ còn có tên là làng Triều Khúc, ở gần ngã ba Thanh Xuân, trên đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Kẻ Đơ xưa là làng chuyên dệt quai thao để mắc vào những chiếc nón lá làm duyên cho các cô gái từ thôn quê đến kinh kỳ.
Các cụ già ở đất Thăng Long còn truyền lại cho con cháu rằng xưa kia, dân Kẻ Bưởi chuyên dệt lĩnh. Khi quay tơ gặp những sợi tơ sần có mốt cục (nốt cục), không dùng dệt lĩnh được nhưng chẳng bao giờ vứt bỏ đi cả. Dân Kẻ Bưởi cất dành tơ mốt cục cho một người tri kỷ trong nghề tơ sợi, đó là dân Kẻ Đơ – Triều Khúc. Một cục của làng Bưởi chỉ có trao cho các cô nàng khéo tay ở Kẻ Đơ dệt quai thao thì mới xứng.
Tổ nghề sớm nhất của nghề dệt được nhắc đến trong truyền thuyết là công chúa Thiệu Hoa con vua Hùng Vương. Làng Bùng ở Hà Tây cũ thờ ông tổ nghề dệt lượt là Phùng Khắc Khoan.
4. Nghề thêu
Ông tổ nghề thêu và làm lọng là Lê Công Hành, đền thờ ở ngõ Yên Thái, Hà Nội, đỗ tiến sĩ đời vua Lê Chân Tông. Khi đi sứ sang Trung Quốc, ông bị nhốt trên một cái đài cao, trong lúc buồn chán đã tháo hình thêu trên bức nghi môn và cái lọng trang trí để tìm hiểu cách thêu. Sau đó, ông dùng cái lọng làm dù để xuống đất. Sau này khi về nước, ông đem nghề thêu và làm lọng dạy cho dân làng Quất Động rồi nghề dần phát triển sang các làng khác. Trước đó thì nước ta đã có lọng từ thời Trần.
Nghề thêu các thế kỷ trước đó còn đơn sơ với chỉ ngũ sắc và chỉ kim tuyến, phục vụ vua quan, nhà chùa.
5. Nghề làm giấy
Từ thế kỷ 4, học giả Trung Quốc đã ghi chép về thứ giấy thơm của Giao Chỉ tên là “mật hương”, làm bằng gỗ cây trầm: màu trắng, có vân như vẩy cá, mùi rất thơm tho, bỏ xuống nước cũng không nát. Một học giả khác ghi lại tổ tiên đã biết dùng rong rêu lấy dưới biển về làm một thứ giấy gọi là “giấy trắc lý”.
Làng Dịch Vọng ở Cầu Giấy ở ngoại ô phía Tây kinh đô Thăng Long được ghi lại có nghề làm giấy từ cuối thời Lý, đầu thời Trần. Thế kỷ có một phường làm giấy khác là Yên Thái cạnh Hồ Tây. “Nhịp chày Yên Thái” chính là nhịp chày giã vỏ dó để làm giấy.
Vào thế kỷ 18, Vân Đài Loại Ngữ ghi lại dân gian dùng vỏ cây dó và cây thượng lục để làm giấy. Cây thượng lục là thứ cây hiếm nhưng có thể tạo loại giấy đặc biệt vừa bền dai, vừa trắng sáng, thuộc hạng giấy tốt nhất.
Giấy dó
Cây dó dược chuyển từ rừng trên mạn Yên Bái, Phú Thọ theo sông Lô, sông Thao về Hà Nội.
Quy trình:
Sơ chế: ngâm nước –> ngâm nước vôi loãng –> nấu cách thuỷ –> ngâm nước vôi loãng lần 2 –> bóc vỏ đen, giữ vỏ trắng.
Tinh chế: giã vỏ dó ra thành bùn trắng –> pha vào tàu seo có nhựa cây mò làm keo, trộn thành nước đặc –> tráng thành giấy –> úp vải lên –> xếp lên tập giấy ướt.
Làm khô: tập giấy ướt đủ dày –> mang đi ép cho khô –> bóc uốn (can) –> phết lên tường, là cho phẳng.
Con gái trẻ seo giấy, các bà các cô các chị can giấy. Công việc khá vất vả.
Các loại giấy khác
Giấy Nghè: có từ thời nhà Lý, trên nền có nổi lên mờ mờ hình rồng phun mây, dành riêng cho nhà vua viết các tờ sắc phong.
Dân Bắc Ninh còn làm giấy bằng vỏ cây dâu để in tranh khắc gỗ dân gian.
Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh xưa kia có 1 số phường làm được giấy nhũ tương, cầm lên tay thấy óng ánh những hạt màu bạc, vàng, dùng để viết những câu đối quý và đã có một thời gian trở thành hàng xuất khẩu.
6. Nghề làm tranh dân gian
Tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam có 2 dòng lớn: tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Không ít nhà nghiên cứu nghiêng về giả thuyết cho rằng nghề này có thể manh nha từ thời nhà Lý và phát triển tới mức thành một nghề hẳn hoi khoảng thế kỷ 15 – 16 .
Tranh Đông Hồ
Làng Đông Hồ (còn gọi là làng Hồ) ở gần sông Đuống ngày nay, thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Ngay gần làng Hồ cũng có làng Quả với nghề làm bút lông và mực đen màu tro, sản xuất từ lá tre; làng Kẻ Nía với nghề làm vàng hương, làng Đạo Tú với nghề làm chất điệp, thường cung cấp cho làng Hồ in tranh khắc gỗ mùa xuân.
Thợ thủ công in tranh Đông Hồ trong mỗi tháng của năm đều biết rõ họ phải làm gì để chuẩn bị cho mùa tranh năm tới. Tháng 3, tháng 4 âm lịch bắt đầu rục rịch chuẩn bị cho mùa tranh Tết năm sau: ra mẫu mới hoặc chỉnh lý lại các mẫu cũ; gọt, mài những tấm gỗ thị chuẩn bị khắc những ván in nét.
Để có một bản ván khắc nét bằng gỗ thị: Cây thị sau khi được hạ xuống thì để hàng năm trời cho khô đi rồi mới đem xẻ nhỏ và bào trơn để làm bản khắc nét, không bị mọt, có thể được lưu giữ tới hàng trăm năm. Một số thợ Đông Hồ cũng khắc trên gỗ mỡ, gỗ giổi – mềm mịn hơn gỗ thị. Số lượng ván in bằng số lượng màu trên tranh. Phần ván in màu phải đem ngâm vào trong nước mới khỏi bị thấm hút hoặc phai nhạt và không làm lạc mất màu sắc đã pha. Có một số thợ khắc tranh Đông Hồ không cần bản mẫu mà trực tiếp đục thẳng vào ván gỗ mà vẫn giữ đường nét mềm mại, vững vàng.
Trên nền giấy dó hoặc giấy vỏ dâu, những người làm tranh thường quét phủ lên một lượt chất điệp trắng óng ánh. Hạt dành dành hoặc hoa hoè tạo thành màu vàng đậm và sáng. Lá chàm cho màu lam để in màu lá dáy và những hình âm dương trên tranh lợn ăn lá dáy. Từ màu rỉ đồng, có thể pha chế một loạt cung bậc khác nhau của màu xanh từ hoa lý, lá mạ, màu nước biển… Đá và sỏi cho màu nâu, nâu đất hay nâu cánh kiến. Vỏ cây vang hoặc quả gấc chế ra màu đỏ gấc. Từ màu đỏ gấc, có thể có màu hoa đào, màu cánh sen, hoa hiên, đỏ điều và nhiều cung bấc khác nhau của màu đỏ. Màu đen được làm ra từ rơm cói và lá tre.
Tranh hàng Trống
Tranh Hàng Trống được ước đoán ra đời muộn hơn Đông Hồ. Ở Hàng Trống, việc tô màu do bàn tay nghệ nhân trực tiếp phụ trách trên từng tờ tranh. Các phường in tranh chỉ khắc bản gỗ nét của tranh. So với Đông Hồ, những nét vẽ của tranh Hàng Trống có phần tinh vi hơn, điêu luyện hơn, ở một số tranh thì việc sử dụng hoà sắc êm ái hơn, góp phần đem tới những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, tạo ra vẻ đa dạng của tranh dân gian khắc gỗ Việt Nam.
Các loại tranh khác
Tranh đỏ Kim Hoàng in trên giấy tầu vàng, hồng điều là loại giấy màu bán sẵn ở Hàng Ngang. Phần màu có dùng các loại: trắng, hồng, đỏ sẫm, sa thanh (xanh lơ), sa lục (xanh lá cây), tím, vàng… Tranh đỏ Kim Hoàng cần chấm vẽ phẩm nhiều, hầu như chỉ có khâu in bản nét đen là làm hàng loạt.
Nghề in mộc bản
Ván khắc để in cần gỗ thớ nhỏ, mịn để khắc được nét nhỏ.
Gỗ thị, gỗ thừng mực dẻo, mịn, bền, không mọt, có thể để được cả trăm năm.
Quy trình khắc bản in: đánh nhẵn 2 mặt –> trát bản nét –> đánh giấy mỏng, nét rõ –> khắc theo nết trên giấy.
Quy trình in: quét mực lên ván khắc ==> đặt giấy lên ==> dùng xơ mướp xoa đều ==> bóc giấy ra
Thư bản khố là kho lưu trữ ván gỗ khắc. Trong sách có ghi nơi trữ bản khắc để tiện cho việc tái bản. Bản khắc là vốn lớn nhất của nhà in.
Thợ khắc là nam, thường ở làng, chỉ đi trả bản in hoặc sửa chữa khi cần.
Thợ in là nữ, thường sống theo tổ, ở đình, chùa để tiện giao tranh.
Các nhà in có thể thuộc sở hữu của nhà nước, nhà buôn, nhà nho. Riêng nhà nho thì thường có nhà in phục vụ cho việc nghiên cứu và sáng tác.
Nghề sơn ta
Người Việt từ hơn 2 ngàn năm trước đã biết dùng sơn lên gỗ, từ thế kỷ 3-4 trước công nguyên. nghề này phát triển mạnh ở thời Lý.
Quy trình sản xuất sơn:
Lấy nhựa: khía chéo thân cây sơn –> dùng vỏ trai hứng khoảng 2-3h –> vét. Việc này phải làm xong trước khi mặt trời mọc thì chất lượng mới tốt.
Tách lớp sơn: sơn hứng được để yên 2-4 tháng cho đứng rồi lấy ra. Từ trên xuống dưới có các lớp sau:
- Lớp mặt dầu: lỏng, nâu, tốt nhất
- Sơn giọi: chia làm sơn nhất, sơn nhì, chiếm 30-50%
- Sơn thịt, sơn hom
- Nước thép
Đây là sơn sống, muốn dùng thì phải làm chín.
- Sơn quang dầu: trộn sơn với dầu trẩu
- Sơn mài: trộn sơn với nhựa thông, tùng hương
Quấy sơn trộn trong nhiều giờ để loại nước và kích thích oxy hoá, từ đó sơn quánh lại như kem, sơn dễ khô hơn.
Nghệ thuật sơn mài bắt đầu từ năm 1932.
Những điểm đặc biệt của sơn ta:
- Không bị hoá chất / côn trùng phá hại
- Chịu nóng lên đến 250 độ C
- Bóng mịn, chịu được axit, chịu được mặn (từng tìm thấy ở thuyền đắm sản phẩm phủ sơn ta cả trăm năm dưới biển mà vẫn đẹp)
- Cách điện
Nghề khảm trai
Có từ thời Bắc thuộc, có tiếng từ thế kỷ 3-5.
Thời Trần tặng vua Nguyên (1289): trong nhiều bảo vật có đồ khảm vàng trên nhiều chất liệu như gỗ, sừng, ngà, đồng.
Chất liệu
- Vỏ trai:
- Trai cánh: mỏng vỏ, sẫm màu
- Trai thịt: trắng
- Trai nứa: trắng, mỏng mình
- Trai Nông cống: nhiều vân, thâm thịt
- Cửu khổng: vân + màu sắc phong phú, dùng làm mặt nổi
- Ốc bể – ốc xà cừ
- Hến bể: gọi là vỏ xác, trắng như tuyết, dùng để làm diện – khuôn mặt trong chân dung.
Dụng cụ để khảm
Cưa lưỡi nhỏ, giũa nhỏ dẹt, dao tách, trổ, cặp.
Công đoạn
- Sáng tác bản vẽ
- Mài, cưa, đục mảnh
- Hạ mặt: dùng sơn ta gắn mảnh vào gỗ
- Mài, đánh bóng
Đề tài ngày xưa: Tam Quốc, ước lệ (thông – mai – cúc – trúc, ngư – tiều – canh – độc)
Làm vũ khí
Nỏ liên châu:
- Cánh nỏ lớn, cần nhiều người để giương, trên nỏ lắp 3-5 mũi tên lớn như mũi lao
- Trên thành Cổ Loa có những dãy nỏ, khi bắn thì tên bay như mưa
Súng thần công (ra đời thời Trần – Hồ)
- 1390 đánh vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga có hoả pháo trên thuyền
- Có quan xưởng đúc súng
Súng thần cơ (thời Hồ): mang vác được, chỉ cần một người là bắn được.
Lý thú về địa danh ở thăng Long:
- Xưởng đúc súng: Lò đúc
- Trường bắn thử: Giảng Võ đường
Ta có pháo lớn trên thành, hoả pháo trên thuyền.
Sách có ghi lại 1 số công thức pha chế đạn ghém.
Thời Trần / Hồ có đúc nhiều ( khoảng 50) cỡ súng khác nhau.
Các nghề liên quan: luyện kim, khai thác mỏ, khai thác đá.
Nghề đóng thuyền
Có từ triều Lý: có nhiều đoàn thuyền vượt biển ra đảo, đến Chiêm Thành.
Các loại thuyền có buồm rộng: thuyền đinh, thuyền mành, buồm mông, buồm cánh dơi, buồm cánh én.
Các loại thợ:
- Thợ chuyên đóng tàu –> phường hội ở làng mạc vùng sông nước
- Nông / ngư dân có nghề phụ
Quy trình đóng thuyền (siêu sơ bộ) do trùm phường / thợ cả chỉ huy
- Chọn / mua / khai thác gỗ
- Thiết kế, thi công, xảm, hun
- Hạ thủy
Bách tác tượng là những thợ thủ công chế tạo binh khí, đóng tàu thuyền của nhà nước, trong đó bao gồm những thợ giỏi bị nhà nước trưng tập vào quan xưởng và những người bị tội đồ bắt vào làm phụ việc như nô lệ.
Chế độ nhậm công: nhà nước thuê mướn thợ tự do vào làm trong quan xưởng.
Thuyền chiến thời Trần
- Thuyền máy thần phi
- hình dáng như thuyền đi biển, bọc da trâu sống hoặc phên tre đan dày để đỡ đạn
- sườn có trổ lỗ châu mai để bắn súng /tên
- có 3 tầng, có khoang kín để tinh binh nấp, cưỡi sóng rẽ gió đi rất nhanh
- Thuyền mẫu tử:
- Dài 3 trượng 5 thước, nhìn như 1 chiếc thuyền
- Thuyền mẹ: 2 trượng, dáng thuyền thúng, không mái chèo, chất đầy cỏ khô, thuốc súng, củi khô, vật dẫn lửa, mũi và nách cắm đinh sói, lưng dựng thanh gang và sắt nhọn để cột chặt vào thuyền giặc rồi đốt cùng cháy
- Thuyền con: 1 trượng 5 thước, là thuyền chiến kiên cố, có mái chèo, có chốt gắn vào thuyền mẹ. Khi đốt thuyền mẹ thì tháo chốt rồi nhảy sang thuyền
- Thuyền liên hoàn: là 2 thuyền hoàn chỉnh móc chặt với nhau
- Thuyền trước: chở hỏa pháo, súng hướng về phía trước, đinh ba thép bẻ quặt
- Thuyền sau: có mái chèo, là thuyền chiến bình thường.
- Đụng tàu giặc: mũi móc tự rời ra thành 2 thuyền chiến độc lập
- Thuyền mông xung: thành trì nổi trên mặt nước
- Khoang to, nhiều tầng cao chắc chắn, tên đạn không xuyên được
- Có lỗ châu mai để bắn súng / cung
- Gỗ tốt, thiết kế gọn nhẹ, kiên cố, lướt nước tốt, cơ động
- Thuyền tẩu kha: thuyền lớn, rộng, quân chèo thuyền ở khoan kín
- Đài chỉ huy ở cuối thuyền, khá cao để tướng vừa chỉ huy vừa lái thuyền
- Thuyền tam khai lãng: mũi nhọn, trọng tải lớn, ăn sâu khoảng 3 thước nước, đi lại dễ dàng, dùng để đổ bộ 30-50 quân lính
- Thuyền chài
- Chở 3 người: 1 cầm buồm, 1 chèo lái, 1 cầm súng
- Không lo chìm đắm, dễ tiến thoái, khó bắt
- Lâu thuyền: pháo đài kiên cố nhiều tẩng nổi trên nước
- Đầu thuyền: thuyền chiến lớn, quanh thân vẽ thủy quái
- Chiến thuyền hải cốt: sạp rất rộng để quân giữ đội ngũ, hai bên có những cặp chèo khỏe đâm ra trông như xương 1 con hải quái
- Du đĩnh: 5 tầng thành cao, ddùng cho tướng chỉ huy bằng cờ lệnh