Quốc Tử Giám là trường học đầu tiên mở năm 1076 thời vua Lý Nhân Tông, trường công ở kinh thành dạy con cái quan lại triều đình. Một vài tên khác “nhà Thái học”, “nhà Quốc học”. Thỉnh thoảng có con cháu thường dân học nhưng phải xuất sắc.
Người phụ trách dạy học trò thường dân là các bậc ẩn nho (có tài, đỗ đạt nhưng không làm quan) và hàn nho (tương đối có tài nhưng đi thi lại không đỗ).
Nếu nhà thầy khang trang có sân trước, sân sau, bể cá, ao bèo thì kiêm luôn nhà học. Nếu nhà thầy chật hẹp, vợ thầy bôn ba thì thầy sẽ quảy gánh sách Thánh hiền đến nương náu nhà điền chủ / phú hộ để dạy quý tử trong nhà và trẻ con làng xóm xung quanh. Thầy đồ xưa luôn là tầng lớp được trọng vọng.
Trẻ em lên 6,7 tuổi thì được cha mẹ dẫn đến xin thầy cho thụ giáo chữ Thánh hiền. Nếu thầy nương tựa nơi khác thì sẽ hỏi ý kiến gia chủ, thường thì sẽ được ưng thuận, gia chủ coi đó làm niềm vinh hạnh cho nhà mình. Lễ nhập môn tổ chức vào ngày lành tháng tốt, có mâm xôi, con gà, be rượu… Cha mẹ đứa trẻ được mời lại dùng cơm để thầy và gia chủ tìm hiểu thêm về đứa trẻ.
“Tiên học lễ, hậu học văn” – đứa trẻ đầu tiên học cách khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi, thưa gửi… và làm việc vặt (quét sân, quét lớp, mài mực…) Làm sai sẽ bị đòn roi.
Học hết lễ mới đến học chữ. Trong lớp, thầy ngồi trên giường trải chiếu hoa, có đầy đủ tráp, bút, nghiên, điếu. Trò ngồi trên phản kê sát nhau đối diện với thầy. Trong một lớp có thể đứa bé học vỡ lòng và anh học trò đã vợ con, chuẩn bị đi thi. Thầy giảng cho từng nhóm khác nhau.
Lớp học đông có hai anh trưởng coi sóc: anh trưởng trường nội lo việc trong trường, anh trưởng trường ngoại lo việc bên ngoài từ cổng trở ra. Gặp việc rắc rối thì hai anh bàn nhau giải quyết.
6h sáng học trò đến trả vài cho thầy rồi về ăn sáng. Giờ học từ 9h sáng đến 3h chiều không nghỉ, học tất cả các ngày, không có nghỉ lễ. Trong năm có 3 kỳ nghỉ dài để học trò về giúp đỡ ba mẹ:
- Tết Đoan ngọ: nghỉ hơn một tháng để giúp cha mẹ gặt lúa
- Tết cơm mới vào tháng 10: nghỉ khoảng một tháng cho vụ gặt
- Tết Nguyên đán: nghỉ 2 tháng
Công sức thầy được đền đáp bằng:
- Học phí: mỗi năm nộp cho thầy 1-2 lần, tổng khoảng 4 quan tiền. Chủ nhà mỗi năm may cho thầy 2 quần, 2 áo dài, 3 áo cộc.
- Tiền Tết thầy vào các kỳ nghỉ: tuỳ tâm cha mẹ để thầy mua sắm, về thăm nhà. Trò lớn thường tiễn chân thầy về, có khi đến tận nhà, rồi mới xin phép quay lại.
“Tiền đồng môn”: góp trong trường hợp cha mẹ, vợ thầy hoặc chính thầy chết. Trưởng trường nội lên danh sách tất cả học trò (từ lớp đầu tiên) và định khoản đóng góp tuỳ hoàn cảnh mỗi người. Trường trường ngoại thực thi. Học trò cũ làm quan to cũng phải đóng. Trốn đóng tiền đồng môn bị coi là vi phạm luân lý nặng nề, nặng hơn trốn thuế Triều đình.
Thời vua Minh Mạng những năm mất mùa hoặc ở địa phương nghèo, triều đình cho địa phương trích ruộng công làm “ruộng hướng học” để nuôi thầy dạy học.
Chương trình học:
- Tứ thư: Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử. Chủ yếu ghi lại những lời nói, trao đổi với người cùng thời, dạy bảo học trò của Khổng Tử.
- Ngũ kinh: Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu cũng là sưu tập hoặc san định của Khổng Tử
Về sau ta có soạn thêm một số sách giáo khoa nữa:
- Nhất Thiên Tự: 1015 câu lục bán, chữ Hán kèm nghĩa bằng chữ Nôm
- Tam Thiên Tự: 3k chữ xếp thành cặp bắt vần với nhau.
- Ngũ Thiên Tự: 5k chữ, ghép theo thể lục bát theo đề mục như thiên văn, địa lý, quốc chính, luân thường
- Sơ học vấn tâm: tóm tắt lịch sử Trung Quóc, lịch sử nước Nam, cách xử thế
- Ấu học ngũ ngôn thi: lạc thú của việc học, mơ ước đỗ đạt của học trò. Phương pháp không đi từ dễ đến khó mà đưa ra bài học khó ngay từ đầu, mục đích là truyền đạo nghĩa, cương thường
Đề văn đi thi có thơ phú, kinh nghĩa (giải thích một câu trích trong kinh truyện), văn sách (văn trả lời những câu hỏi để thể hiện kiến thức), chiếu (lời ban bố của vua với thần dân), chế (lời vua phong thưởng công thần), biểu (văn thần dân dâng lên vua). Thi, phú thông dụng trong sinh hoạt, các thể loại khác chỉ để thi.
Thời Nguyễn có các cấp bậc quan trông coi giáo dục ở địa phương: Đốc học (tỉnh), Điển học (đạo – tỉnh nhỏ), Giáo thụ (phủ), Huấn đạo (huyện). Quan có nhiệm vụ coi sóc hoạt động dạy học và tổ chức thi sát hạch cho kỳ thi Hương.
Một năm trước kỳ thi Hương, quan Đốc học ra đầu bài hàng tháng, niêm yết ở phủ Đốc học. Học trò chép đề mang về làm nửa tháng thì đem nộp. Cuối tháng, quan Đốc học và các vị khoa bảng có tiếng trong tỉnh họp chấm và tổ chức bình văn. Bài văn hay được đọc lên toàn bài hoặc trích đoạn, nêu tên tuổi, quên quán tác giả. Ai được xướng danh thì rất hãnh diện, học trò khắp tỉnh đều đến dự. Bình văn đã có từ thời Lê-Trịnh.
Mỗi năm một lần, Tổng đốc hoặc Tuần phủ đứng đầu tỉnh và quan Đốc học tổ chức kỳ thi Khảo khoá thi thi phú và văn sách. Người đậu gọi là “thầy Khoá” và được miễn công tác phu đài, tạp dịch trong một năm. Kỳ Tỉnh hạch quan trọng hơn, mở 4, 5 tháng trước kỳ thi Hương. Thi đỗ kỳ này mới được quan Đốc học lập danh sách gửi bộ Lễ để phân phối đến các trường thi. Người đỗ Tỉnh hạch gọi là “Đầu xứ”.
Năm 1835, nhà Nguyễn chọn những người trẻ tuổi, lanh lợi, chu cấp cho đi học “tiếng các nước xa gần”. Tháng 6/1836, định chương trình học tập văn tự ngoại quốc. Học chữ Tây và chữ Xiêm, mỗi ngày vài chữ. Ngoài ra còn có các môn toán pháp, đo lường, địa lý…
Thực dân Pháp cai trị thuộc địa bằng chữ Hán gặp khó khăn. Năm 1863 ban hành quyết định đưa thêm tiếng Việt bằng chữ la tinh vào chương trình học nhưng chưa bắt buộc.
Năm 1879 và 1880, tổ chức lại nền học chính ở Nam kỳ, học song hành cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ.
Năm 1911, các thí sinh thi Hương năm 1912 phải biết chữ Quốc ngữ.
Năm 1918 là kỳ thi Hương cuối cùng còn học và thi chữ Hán.
Published by