Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Chuyện học hành

Quốc Tử Giám là trường học đầu tiên mở năm 1076 thời vua Lý Nhân Tông, trường công ở kinh thành dạy con cái quan lại triều đình. Một vài tên khác “nhà Thái học”, “nhà Quốc học”. Thỉnh thoảng có con cháu thường dân học nhưng phải xuất sắc.

Người phụ trách dạy học trò thường dân là các bậc ẩn nho (có tài, đỗ đạt nhưng không làm quan) và hàn nho (tương đối có tài nhưng đi thi lại không đỗ).

Nếu nhà thầy khang trang có sân trước, sân sau, bể cá, ao bèo thì kiêm luôn nhà học. Nếu nhà thầy chật hẹp, vợ thầy bôn ba thì thầy sẽ quảy gánh sách Thánh hiền đến nương náu nhà điền chủ / phú hộ để dạy quý tử trong nhà và trẻ con làng xóm xung quanh. Thầy đồ xưa luôn là tầng lớp được trọng vọng.

Trẻ em lên 6,7 tuổi thì được cha mẹ dẫn đến xin thầy cho thụ giáo chữ Thánh hiền. Nếu thầy nương tựa nơi khác thì sẽ hỏi ý kiến gia chủ, thường thì sẽ được ưng thuận, gia chủ coi đó làm niềm vinh hạnh cho nhà mình. Lễ nhập môn tổ chức vào ngày lành tháng tốt, có mâm xôi, con gà, be rượu… Cha mẹ đứa trẻ được mời lại dùng cơm để thầy và gia chủ tìm hiểu thêm về đứa trẻ.

“Tiên học lễ, hậu học văn” – đứa trẻ đầu tiên học cách khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi, thưa gửi… và làm việc vặt (quét sân, quét lớp, mài mực…) Làm sai sẽ bị đòn roi.

Học hết lễ mới đến học chữ. Trong lớp, thầy ngồi trên giường trải chiếu hoa, có đầy đủ tráp, bút, nghiên, điếu. Trò ngồi trên phản kê sát nhau đối diện với thầy. Trong một lớp có thể đứa bé học vỡ lòng và anh học trò đã vợ con, chuẩn bị đi thi. Thầy giảng cho từng nhóm khác nhau.

Lớp học đông có hai anh trưởng coi sóc: anh trưởng trường nội lo việc trong trường, anh trưởng trường ngoại lo việc bên ngoài từ cổng trở ra. Gặp việc rắc rối thì hai anh bàn nhau giải quyết.

6h sáng học trò đến trả vài cho thầy rồi về ăn sáng. Giờ học từ 9h sáng đến 3h chiều không nghỉ, học tất cả các ngày, không có nghỉ lễ. Trong năm có 3 kỳ nghỉ dài để học trò về giúp đỡ ba mẹ:

  • Tết Đoan ngọ: nghỉ hơn một tháng để giúp cha mẹ gặt lúa
  • Tết cơm mới vào tháng 10: nghỉ khoảng một tháng cho vụ gặt
  • Tết Nguyên đán: nghỉ 2 tháng

Công sức thầy được đền đáp bằng:

  • Học phí: mỗi năm nộp cho thầy 1-2 lần, tổng khoảng 4 quan tiền. Chủ nhà mỗi năm may cho thầy 2 quần, 2 áo dài, 3 áo cộc.
  • Tiền Tết thầy vào các kỳ nghỉ: tuỳ tâm cha mẹ để thầy mua sắm, về thăm nhà. Trò lớn thường tiễn chân thầy về, có khi đến tận nhà, rồi mới xin phép quay lại.

“Tiền đồng môn”: góp trong trường hợp cha mẹ, vợ thầy hoặc chính thầy chết. Trưởng trường nội lên danh sách tất cả học trò (từ lớp đầu tiên) và định khoản đóng góp tuỳ hoàn cảnh mỗi người. Trường trường ngoại thực thi. Học trò cũ làm quan to cũng phải đóng. Trốn đóng tiền đồng môn bị coi là vi phạm luân lý nặng nề, nặng hơn trốn thuế Triều đình.

Thời vua Minh Mạng những năm mất mùa hoặc ở địa phương nghèo, triều đình cho địa phương trích ruộng công làm “ruộng hướng học” để nuôi thầy dạy học.

Chương trình học:

  • Tứ thư: Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử. Chủ yếu ghi lại những lời nói, trao đổi với người cùng thời, dạy bảo học trò của Khổng Tử.
  • Ngũ kinh: Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu cũng là sưu tập hoặc san định của Khổng Tử

Về sau ta có soạn thêm một số sách giáo khoa nữa:

  • Nhất Thiên Tự: 1015 câu lục bán, chữ Hán kèm nghĩa bằng chữ Nôm
  • Tam Thiên Tự: 3k chữ xếp thành cặp bắt vần với nhau.
  • Ngũ Thiên Tự: 5k chữ, ghép theo thể lục bát theo đề mục như thiên văn, địa lý, quốc chính, luân thường
  • Sơ học vấn tâm: tóm tắt lịch sử Trung Quóc, lịch sử nước Nam, cách xử thế
  • Ấu học ngũ ngôn thi: lạc thú của việc học, mơ ước đỗ đạt của học trò. Phương pháp không đi từ dễ đến khó mà đưa ra bài học khó ngay từ đầu, mục đích là truyền đạo nghĩa, cương thường

Đề văn đi thi có thơ phú, kinh nghĩa (giải thích một câu trích trong kinh truyện), văn sách (văn trả lời những câu hỏi để thể hiện kiến thức), chiếu (lời ban bố của vua với thần dân), chế (lời vua phong thưởng công thần), biểu (văn thần dân dâng lên vua). Thi, phú thông dụng trong sinh hoạt, các thể loại khác chỉ để thi.

Thời Nguyễn có các cấp bậc quan trông coi giáo dục ở địa phương: Đốc học (tỉnh), Điển học (đạo – tỉnh nhỏ), Giáo thụ (phủ), Huấn đạo (huyện). Quan có nhiệm vụ coi sóc hoạt động dạy học và tổ chức thi sát hạch cho kỳ thi Hương.

Một năm trước kỳ thi Hương, quan Đốc học ra đầu bài hàng tháng, niêm yết ở phủ Đốc học. Học trò chép đề mang về làm nửa tháng thì đem nộp. Cuối tháng, quan Đốc học và các vị khoa bảng có tiếng trong tỉnh họp chấm và tổ chức bình văn. Bài văn hay được đọc lên toàn bài hoặc trích đoạn, nêu tên tuổi, quên quán tác giả. Ai được xướng danh thì rất hãnh diện, học trò khắp tỉnh đều đến dự. Bình văn đã có từ thời Lê-Trịnh.

Mỗi năm một lần, Tổng đốc hoặc Tuần phủ đứng đầu tỉnh và quan Đốc học tổ chức kỳ thi Khảo khoá thi thi phú và văn sách. Người đậu gọi là “thầy Khoá” và được miễn công tác phu đài, tạp dịch trong một năm. Kỳ Tỉnh hạch quan trọng hơn, mở 4, 5 tháng trước kỳ thi Hương. Thi đỗ kỳ này mới được quan Đốc học lập danh sách gửi bộ Lễ để phân phối đến các trường thi. Người đỗ Tỉnh hạch gọi là “Đầu xứ”.

Năm 1835, nhà Nguyễn chọn những người trẻ tuổi, lanh lợi, chu cấp cho đi học “tiếng các nước xa gần”. Tháng 6/1836, định chương trình học tập văn tự ngoại quốc. Học chữ Tây và chữ Xiêm, mỗi ngày vài chữ. Ngoài ra còn có các môn toán pháp, đo lường, địa lý…

Thực dân Pháp cai trị thuộc địa bằng chữ Hán gặp khó khăn. Năm 1863 ban hành quyết định đưa thêm tiếng Việt bằng chữ la tinh vào chương trình học nhưng chưa bắt buộc.

Năm 1879 và 1880, tổ chức lại nền học chính ở Nam kỳ, học song hành cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ.

Năm 1911, các thí sinh thi Hương năm 1912 phải biết chữ Quốc ngữ.

Năm 1918 là kỳ thi Hương cuối cùng còn học và thi chữ Hán.

Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Lệ bảo cử và hồi tỵ

Lệ bảo cử = tiến cử hiền tài ra làm việc nước.

Triều Lý – Trần – Lê Nguyễn đều tổ chức thi cử chu đáo, tránh thiên vị.

Trạng nguyên, bảng nhãn… phải học hỏi ở nha môn mới được trọng dụng, nắm trọng trách cai trị ở địa phương.

Có người tài không ham thi cử, chỉ thích đọc sách thánh hiền hay dạy học. Có người giỏi lại trắc trở trong kỳ thi. Vì vậy, triều đình đặt lệ bảo cử để tiến cử những người này.

Lê Thái Tổ ra chiếu: Đại thần tam phẩm trở lên có bổn phận tiến cử hiền tài, có thăng tước và thưởng.

Lê Huyền Tông định: quan nhị phẩm có thể đề cử bốn người, lục phẩm – bát phẩm: 2 người. Bộ Lại xét tuyển.

Thời Nguyễn: vua Minh Mạng chú trọng bảo cử, định rõ cấp bậc nào được tiến cử cấp bậc nào. Tiến cử người bất tài, vô đức sẽ bị trừng phạt.

Lệ Hồi tỵ – ngăn chặn tình trạng nhiều người trong gia đình làm việc trong cùng 1 đơn vị, cơ quan dẫn đến câu kết, tham ô, nhũng nhiễu dân.

Triều Nguyễn áp dụng rất chặt chẽ: cha con, anh em, họ hàng không được làm chung với nhau trong một nha một hay một hạt, được triều đình bổ về thì phải tự khai để đổi. Quan chủ khảo các khoa thi nếu có anh em con cháu dự kỳ đó thì cũng phải hồi tỵ.

Vua Minh Mạng định quan không được cai trị ở bản hạt, phải đổi đi nơi khác. Sau lại định việc thuyên chuyển người nhà môn mỗi 3 năm. Vua Thiệu Trị đi xa hơn, bố vợ, anh em ruột vợ, chồng chị, chồng em của vợ đều phải hồi tỵ.

Vua Đồng Khánh ra thêm luật những quan cùng quê cùng làm chung một nơi cũng phải hồi tỵ.

Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Lễ Tế giao

Lễ Tế giao là nghi thức thể hiện lòng biết ơn của con người đối với trời đất. Lễ này xuất hiện ở Trung quốc từ thời Nghiêu, Thuấn cách đây hon 4000 năm: nhà vua làm chủ tế hai lần khác nhau trong năm: tiết Đông chí – tế trời ở gò tròn gọi là Nam giao, tiết Hạ chí – tế đất ở gò vuông gọi là Bắc giao.
Ở nước ta, Tế giao bắt đầu vào thời vua Lý Anh Tông. Đàn Viên khâu (gò tròn) ở thành Thăng Long. Nhà Trần bỏ lệ Tế giao trong gần 200 năm. Hồ Hán Thương lập đàn tế trời (gò tròn) ở núi Đốn Sơn (Thanh Hoá).
Lê Thái Tổ định lễ Tế giao vào mùa xuân, chọn ngày tốt trong 3 ngày Tết Nguyên Đán. Thời Lê Trung hưng, vua ngồi làm vì chúa Trịnh giật dây, lễ lạt được giản lược.
Thời Nguyễn, vua Gia Long lập đàn Nam giao ở phía Nam thành Phú Xuân, chia làm 4 thành:

  • Viên đàn: đàn tròn, tượng trưng cho Trời
  • Phương đàn: đàn vuông, tượng trưng cho đất
  • Còn có thành thứ ba và thứ tư thấp hơn.

Lệ “Bốc giao”: Khâm Thiên giám chọn ba ngày lành trong tháng 2 tâu lên, nhà vua cho bói lại lấy ngày tốt nhất làm lễ Tế giao.
Lệ “Thệ giao” được đặt ra dưới đời vua Minh Mạng: ba ngày trước lễ tế, vua và đình thần tuyên thệ về sự Tế giao.
Nhà vua trai giới ở Trai cung 1 ngày trước lễ chính. Đường sá rất náo nhiệt với cờ trang trí, hương án… Hoàng thân và đình thần mặc triều phục đi theo vua trên đường đến Trai cung. Các quan chờ sẵn để đón vua ở trước Trai cung. Lính An Nam và lính Pháp chặt chẽ trước Giao đàn đêm trước khi làm lễ.
Khách tham gia: Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ trung Kỳ và một vài quan chức cấp cao Pháp được đứng trên Viên đàn chứng kiến. Quan lại Việt Nam từ tam phẩm trở lên phải phủ phục ở thềm Phương đàn, tứ phẩm trở xuống phải phủ phục ở thềm đàn thứ ba.
Lễ Tế giao đặc biệt quan trọng trong sinh hoạt văn hoá thời Nguyễn, thu hút sự chú ý của cả viên chức Pháp.

Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Lễ chúc thọ trong cung đình

Lễ lạt cung đình phong kiến: tấn phong, thánh thọ, bảo thần, tết chính đán, tiến xuân, thường triều…
Lễ chúc thọ tổ chức lúc nhà vua bước vào tuổi 40, 50, 60… hoặc đầu năm mới. Thời Nguyễn bắt đầu tục khen thưởng các “thọ dân”.
Thời Lê Đại Hành năm 985, kỷ niệm sinh nhật nhà vua được xem là nghi lễ thánh thọ. Vua cho người làm thuyền thả xuống sông, làm núi giả trên thuyền bằng trúc gọi là “Nam Sơn” rồi mở cuộc đua.
Thời Lý, Trần, triều đình tổ chức yến tiệc, bày trò vui cho quan dân. Đời Lê Thái Tổ, sinh nhật vua là ngày vạn thọ thánh tiết, chế định nghi thức chúc mừng: vua đến Thái miếu lạy 4 lạy rồi về cung, sau đó là lễ dâng biểu chúc mừng ở điện Triều An. Thời Lê-Trịnh có thêm lễ diên thọ cho chúa Trịnh.
Tiều Nguyễn, lễ thánh thọ được chú trọng trong các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Lễ vạn thọ tứ tuần của vua Minh Mạng:

  • Lễ khánh tiết bắt đầu từ 10 ngày trước lễ đại khánh. Đại thần mặc triều phục vào hầu từng ngày lẻ.
  • Hoàng tử mặc triều phục lần lượt đến điện Cần Chánh để thỉnh an và hầu cơm vua cha
  • Đại bác chúc mừng: lễ thọ 40 tuổi bắn 45 phát, lễ thọ 50 tuổi bắn 54 phát, lễ thọ 60 tuổi bắn 63 phát.
  • Ngày chính lễ khánh thọ: nhà vua ngự tại điện Thái Hoà để nhận lễ mừng và xem múa hát, dự yến tại điện Cần Chánh cùng hoàng tử và văn võ đại thần (tâm phẩm trở lên). Quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống cùng quan nội các được ban yến ngày hôm sau.

Hoàng thái hậu, hoàng thái phi thời Nguyễn đến 40, 50, 60 tuổi cũng tổ chức lễ khánh thọ ở cung Từ Thọ.
Vua Minh Mạng thưởng cấp tiền, lụa cho quan chức lớn nhỏ từ 80 tuổi trở lên.
Đàn ông trong dân chúng thọ 100 tuổi được thưởng bạc và cấp biển có hai chữ “Thọ dân” trước nhà, quan phủ phải thường xuyên đến hỏi thăm, cấp rượu thịt ngày tết.
Vua Thiệu Trị định lệ ban sâm, quế, bạc, lụa… cho cha mẹ các quan tam phẩm trở lên khi cha mẹ họ đến 70 tuổi.

Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Binh chế

Thời Đinh Tiên Hoàng 1 đạo = 10 quân = 100 lữ = 1000 tốt = 10.000 ngũ = 100.000 người. Vua Lê Đại Hành Lê Hoàn là Thập đạo tướng quân, quản lý 1 triệu quân.

Lê Lợi khi đánh đuổi quân Minh có 25 vạn quân: 15 vạn về làm ruộng, 10 vạn ở lại chia làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây.
Vua Lê Thánh Tông định phép duyệt tuyển: 3 năm làm lại hộ tịch – tiểu điển, mỗi 6 năm có đại điển, chia dân binh thành các hạng, phép tuyển rõ ràng.

Chúa Trịnh đặt ra 2 thứ quân: Ưu binh ở kinh thành, Nhất binh ở các trấn.
Binh chia thành nhiều cơ, mỗi cơ 200 quân: 100 tại ngũ, 100 làm ruộng, luân phiên.
Chúa Trịnh Cương lập phép mộ lính: tình nguyện làm lính thì được cấp ruộng. Thời Trịnh Khương thì bãi bỏ.

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đặt phép duyệt tuyển tương tự thời Hồng Đức Lê Thánh Tông. Thời chúa Nguyễn có khoảng 30.000 quân, có 5 cơ: Trung, Tả, Hữu, Tiền, Hậu.

Triều Nguyễn ưu tiên tuyển quân nhà giàu có nhiều đinh mạnh khỏe. Lính đào ngũ chưa bắt được thì cha/con/anh em/họ hàng bị bắt thay, bị bắt được lần 1 đánh 90 roi, tái phạm xử chém.
Quân chia 5 đạo: trung, tiền, hậu, tả, hữu, đứng đầu là Đô thống Chưởng phủ sự.
Kinh binh ở kinh thành Huế gồm Thân binh, Cấm binh và Tinh binh, phân thành doanh = 5 vệ = 500 đội = 25000 người.
Phục vụ vua có Cẩm y, Kim ngô, Loan giá, Thị vệ. Bảo vệ kinh thành có Thần cơ, Tiên phong, Long võ, Hổ oai, Hùng nhuệ.
Quân đóng ở trấn (sau là tỉnh) quân chia thành Vệ và Cơ.
Quân triều Nguyễn chia 3: 1 phần tại ngũ, 2 phần về quê và luân phiên nhau, gọi là biền binh.
Có bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh, pháo thủ binh.
Quân nhà Nguyễn đầu thế kỷ 20 có khoảng 80.000 người, khi cần có thể tăng lên 200.000 thời chiến (biền binh).
Nguyên tắc “động vi binh, tĩnh vi dân” hay “ngụ binh ư nông”.
Thời này có 2 nạn: đi lính thay và đào ngũ.

Võ quan
Hậu Lê: cao nhất là ngũ phủ (trung, đông, tây, nam, bắc quân), đứng đầu là đô đốc phủ có tả hữu đô đốc. Chúa Trịnh Tạc đăt thêm Chưởng phủ sự và Thự phủ sự.
Thời Lê-Trịnh, nội giám rất được tin dùng cho một thời gian.

Triều Nguyễn, văn võ quan cùng có 9 cấp, mỗi phẩm cấp có 2 bậc chánh & tòng.
Quan võ nhất phẩm có Đô thống (tòng nhất phẩm) ở kinh đô trông coi các doanh. Đứng đầu doanh là Chưởng vệ (tòng nhị phẩm), đứng đầu vệ là một Vệ úy (chánh tam phẩm), đứng đầu đội là Chánh đội trưởng suất đội (tòng ngũ phẩm). Quan đứng đầu các tỉnh là là Lãnh binh, chánh tam phẩm. Tỉnh thành lớn có thể có Đề đốc (vd Hà Nội) Tòng nhị phẩm, bằng Tuần phủ và Tham tri. Quân tỉnh chia ra Cơ – đứng đầu là quản cơ (chánh tứ phẩm), và Đội – đứng đầu là Suất đội (tòng ngũ phẩm). Thời này người ta trọng văn hơn võ, lý do là vì quan võ chánh tam phẩm cũng chưa chắc biết nhiều chữ.

Thi võ
Trước thời vua Lê Dụ Tông việc học võ là tự phát, triều đình không mở trường đào tạo và tuyển nhân tài.
Chúa Trịnh Cương mở trường dạy võ đầu tiên. Người phụ trách là các quan Giáo thụ, dạy cho con cháu công thần và quan lại. 2 mùa trong năm: đại tập (4 tháng trọng trong năm tháng 2, 5, 8, 11) tiểu tập (những tháng còn lại của xuân và thu).
Xuân – thu tập võ nghệ, hạ – đông học văn.
3 năm thi võ 1 lần, ai biết võ đều có thể tham gia.
Hỏi về Tôn Tử binh pháp, qua thì vào thi võ nghệ: cưỡi ngựa, múa mâu, đánh kiếm có múa khiên, múa đao. Cuối cùng thi về chiến lược. Qua (gọi là trúng cách) sẽ vào sân phủ chúa thi phúc hạch, xếp hạng và được bổ dụng.

Thời Nguyễn Minh Mạng có tổ chức thi võ nghệ, thi Hương vào các năm Dần, Thân, Tị Hợi, thi Hội vào Tí, Ngọ, Mão, Dậu.
Thi Hương:

  • Kỳ 1: xách tạ và múa côn sắt
  • Kỳ 2: đánh côn gỗ, đao pháp
  • Kỳ 3: bắn súng
    Chấm: ưu, bình, thứ, liệt.
    Đỗ cả 3 kỳ gọi là võ cử nhân, đỗ 2 kỳ gọi là võ tú tài.

Thi Hội cũng 3 kỳ như thi Hương và có thêm vòng thi Đình cho người qua cả 3 kỳ, yêu cầu cao hơn: tạ nặng hơn, chạy dài hơn, đích bắn súng đặt xa hơn.
Thi Đình hỏi về cách dụng binh từ Võ kinh và Tứ tử. Ai đỗ thì được võ tiến sĩ. Ai trúng truyển thi Hội nhưng không nhiều chữ thi viết được thì gọi là võ phó bảng.
Kỳ thi Đình năm 1880:

  • 18 món binh khí, sử dụng binh khí thật, sai một bài là hỏng
  • Đấu quyền với 5 lính ngự lâm được tuyển chọn. Thắng 3 người trở lên thì được ưu / bình, ít hơn thì hỏng. Lính ngự lâm mà để thua thí sinh thì bị phạt lương 9 tháng.
  • Đấu roi, côn với 5 lính ngự lâm tương tự đấu quyền
  • Đấu binh khí (tùy chọn) với 5 lính ngự lâm, thắng 3 trở lên thì đỗ.
    Sau khi thi xong thì được ban yến, ăn xong thì thi đối sách, có thể có thư ký viết bài thi hộ nếu viết chậm.
    Thi bắn súng: được bắn 9 phát, phải trúng đích tối thiểu 3.
    tên người đỗ được viết trên bảng có vẽ rồng, gọi là truyền lô. Bảng này được niêm yết ở Phu Văn Lâu trước thiên hạ. Tân khoa được ban mũ, áo bào màu lam, vào điện Thái Hòa dự yến và tạ ơn. Có ban cờ biển và vinh quy 3 tháng, Tổng đốc và quan Đề đốc phải mang lính, voi ngựa ra ngoài 3 trạm đón tiếp võ tân khoa.
    Tam giáp: Võ tiến sĩ cập đệ, Võ tiến sĩ xuất thân, Võ tiến sĩ đồng xuất thân, đỗ vớt gọi là phó bảng.

Trước thời Nguyễn trọng văn khinh võ: quan văn sang làm quan võ thì cha bị phạt 50 quan tiền và bị hạ cấp, quan võ sang quan văn thì cha được thưởng 50 quan tiền.

Ghi chú: Tìm hiểu sự trọng văn khinh võ là từ thời nào và nó biểu hiện cụ thể sao.

Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Hình luật

Biểu hiện sớm nhất về sự tồn tại của hệ thống luật pháp của Việt Nam, được phản ánh thông qua hệ thống đơn vị hành chính, là từ thời Trưng Vương, được nhắc tới trong sách Hậu Hán Thư của Trung Quốc.
Thời Bắc thuộc, Việt Nam bị chi phối bởi các bộ luật của nhà Hán và nhà Đường.
Triều Đinh và Ngô có các bộ luật trừng trị rất nghiêm khắc.

Bộ luật có quy củ đầu tiên là Hình Thư được ban hành dưới thời vua Lý Thái Tông. Nhà Trần sau đó soạn Quốc triều hình luật cũng có những hình phạt rất tàn khốc.

Vua Lê Thánh Tông ban hành Quốc triều hình luật (gọi ngắn là luật Hồng Đức) có trên 700 điều, chịu ảnh hưởng của luật nhà Đường nhưng được điều chỉnh cho phù hợp xã hội Việt Nam. Việc củng cố pháp luật phần nào bị mai một trong thời Mạc và hai chúa.

Thời Hậu Lê chia hình phạt làm ngũ hình: xuy (đánh roi), trượng (đánh gậy), đồ (làm việc nặng), lưu (đi đày), tử (xử chết).
Bộ luật Hồng Đức có tính nhân văn và tiến bộ riêng:

  • Có hình phạt cho tội bất hiếu, loạn luân
  • Quyền lợi của người phụ nữ được bảo vệ:
    • Đã làm lễ hỏi xong thì không được để 3 4 năm sau mới rước dâu
    • Chồng không được bỏ vợ trừ phi thất xuất
    • Phụ nữ được bảo vệ khi đến nơi hàng quán xa lạ. Nếu bị hà hiếp, ô nhục thì chủ nhà bị phạt cùng với kẻ phạm tội.
  • Quan lại
    • Không được sách nhiều dân chúng
    • Không được tặng quà, giao hảo với nhau.
    • Quan lại bỏ bê trách nhiệm không tra xét cũng bị xử phạt. Quan chăm lo bảo ban dân chúng sẽ được xét thưởng, bỏ bê lười biếng sẽ bị xử phạt.
    • Kỳ hạn xử lý sự vụ rõ ràng: vụ nhỏ 5 ngày, vụ lớn 10 ngày.
  • Có bộ luật tố tụng tên là Quốc triều khán tụng điều lệ gồm 31 chương, đi trước Trung Quốc.
    Có một điểm không được đánh giá cao là cho phép người ta chuộc tội bằng tiền: người địa vị càng cao thì giá chuộc càng đắt, kể cả với tội giết người. Đến thời chúa Trịnh Tạc thì bỏ lệ này.

Triệu Nguyễn có ban hành Hoàng Việt luật lệ dưới thời vua Gia Long, gọi ngắn là luật Gia Long. Bộ luật này bị các nhà luật học về sau phê bình là chịu quá nhiều ảnh hưởng, gần như sao chép hoàn toàn luật của nhà Thanh, mất đi tính đặc thù của pháp luật Việt Nam cũng như là không phản ánh hình thái xã hội Việt Nam.
Luật Gia long gồm 22 quyển, 398 điều, phân chia theo lục bộ. Luật này thay ngũ hình thời Lê thành các hình phạt ít tàn khốc hơn.
Thời này còn có lệ “tam ban triều điển” để thanh toán vua quan: người chịu phạt phải chọn đoản kiếm, thuốc độc, vuông lụa để tự kết liễu. Vua Hiệp Hòa là một ví dụ khi bị khép tội “tư thông với giặc”.
Án Tử có 3 hình thức: giảo (treo cổ), lăng trì (lóc thịt, chặt tay chân), trảm (chém đầu). Giảo và Trả thường được tạm treo, đa số về sau được ân xá thành án lưu đày, xiêng xức, gông cùm thời hạn dài. Lăng trì thường được áp dụng cho phản loạn.

Thực dân Pháp sau khi đã ổn định việc cai trị thì củng cố tổ chức tư pháp, lập ra tòa án.

Ghi chú: Sau này có thể tham khảo so sánh giữa luật Hồng Đức và luật Gia Long về các chi tiết liên quan đến phụ nữ. Có vẻ ở đây sự chuyển dịch về pháp luật không đi theo mà dẫn đến sự chuyển dịch về văn hóa khi vai trò và quyền lợi của người phụ nữ bị giới hạn khắc nghiệt hơn. Ngoài ra, quyền phụ nữ trước thời điểm luật Hồng Đức ra đời, tức là trước thuộc Minh và trong thời kỳ thuộc Minh, có thể cũng sẽ có khoảng cách với thời Lê. Cái mình muốn tìm ra là liệu thời Lê có phải là triều đại tân tiến về thái độ với phụ nữ không, hay nó đã thừa hưởng từ trước đó.

Ghi chép đọc sách Truyện các ngành nghề

Đây là ghi chép đọc sách đầu tiên của mình, có lẽ sau này mình sẽ thay đổi định dạng của nó sau khi đã có nhiều kinh nghiệm hơn.

Thông tin chung

Tên sách: Truyện các ngành nghề
Tác giả: Tạ Phong Châu – Nguyễn Quang Vinh – Nghiêm Đa Văn
Nhà xuất bản Lao Động – 1977

Giới thiệu của A.N

Cuốn sách này được viết trong bối cảnh tổ quốc Việt Nam giành được độc lập chưa lâu, đang bắt đầu con đường xây dựng đất nước sau chiến tranh. Cuốn sách là tập hợp nghiên cứu của ba tác giả đối với 20 nhóm ngành nghề thủ công quan trọng của người Việt. Các tác giả cố gắng tìm ra nguồn gốc của nghề, tổ nghề, quá trình phát triển và đặt các ngành nghề vào bối cảnh xây dựng đất nước.

Chính vì các tác giả cố gắng đưa ra một cái nhìn bao quát về lịch sử của từng nghề nên từ đó mình học được nhiều điều về lịch sử, văn hoá của người Việt, những dấu tích còn lại đến giờ. Các dấu ấn văn hoá còn được giữ lại hay đã mất đi, chỉ cần được nhắc đến cũng đều là đáng quý.

Dù tựa đề là Truyện các ngành nghề nhưng cuốn sách này dạy cho ta nhiều thứ hơn là chỉ về “nghề”. Ngoài những quy trình, những kỹ thuật cứng, những thành tựu được nhắc đến, mình còn hiểu được rằng:

  • Chiến tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển và tạo ra nhiều thành tựu trong xã hội. Cuốn sách này chỉ ra cho mình một vài trong số những thành tựu đó, giúp mình trân trọng lịch sử cũng như hiểu cái giá của chiến tranh.
  • Người Việt rất tài năng, tinh tế và rất biết hưởng thụ cuộc sống, dù cho nó có khó khăn thế nào đi nữa.
  • Mối quan hệ về kinh tế giữa những nhóm người trong cùng một ngành, giữa những cộng đồng trong dây chuyền sản xuất và phân phối, ảnh hưởng của nghề nghiệp nên cuộc sống của những người thợ. Đó là kiến thức về kinh tế và xã hội của người Việt từ hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn năm trước.
  • Đời sống xưa để lại dấu vết cho chúng ta ngày nay dựa vào ca dao, dựa vào những lễ hội, những cổ vật
  • Vùng Hà Nội – Hà Tây – Bắc Ninh thật sự rất nổi bật trong cuốn sách này với sự dày đặc của các làng nghề và những tinh hoa đạt được. Mình rất hy vọng có thể tìm thấy những cuốn sách khác mạnh về các khu vực khác, mình tin là có những cuốn sách đó.

Cuối cùng, mình để niềm tự hào của các tác giả, cũng như của những con người được nhắc đến trong cuốn sách thấm sang mình. Cảm giác đó rất tuyệt!

Ghi chép chi tiết

Dưới đây là những ghi chép được tổng hợp theo những nội dung khiến cho mình chú ý, không nhất thiết phản ánh nội dung cả cuốn sách. Mình cố gắng tối giản phần quan điểm của mình trong các ghi chép này để duy trì tính trung lập.

1. Nghề đúc đồng

Người Việt cổ có hợp kim đồng độc đáo, tìm thấy ở vùng giữa Sông Hồng và Sông Mã. Người Việt cổ dùng trống đồng và trống da để tập hợp sức mạnh các bộ tộc và kích động tinh thần quyết chiến trống giặc.

Các thông tin khảo cổ cho phép ta khẳng định đúc đồng là một nghề chuyên môn khá phát triển ở địa vực cư trú của người Việt khu vực sông Hồng và sông Mã từ thời Hùng Vương.

Có sự kế thừa văn hoá dựa trên việc so sánh hoa văn từ hiện vật ở Phùng Nguyên, Gò Mun tới trống đồng Đông Sơn, khẳng định tính bản địa của trống đồng ở Việt Nam. Tính độc đáo của hợp kim đồng ở trống đồng là hàm lượng chì rất cao, có khi lên tới 26%. Hợp kim đồng còn được ứng dụng cho việc sản xuất vũ khí và công cụ lao động. Ví dụ: dao găm, lưỡi giáo / mác, mũ, yếm tâm, rìu, lưỡi cày…

Ở Cổ Loa từng phát hiện trên một vạn mũi tên đồng có kiểu dáng độc đáo: có 3 ngạnh nhon sắc có ống để cắm thanh tre làm đuôi mũi tên, có đục lỗ để buộc mồi lửa làm hoả tiễn. Khoảng những năm 1930 từng phát hiện hững chiếc ống đồng dài có khoét lỗ trên thân, có thể là bộ phận hoặc mô phỏng bộ phận nỏ thần Liên Châu. Vùng này xưa kia cũng có tục rước nỏ thần.

Tứ đại khí của Việt Nam

– Tháp Báo Thiên
– Chuông Quy Điền
– Tượng chùa Quỳnh Lâm
– Vạc Phổ Minh.

Cả bốn bảo vật đều đã bị phá huỷ do quân Minh cần chế tạo vũ khí để đàn áp kháng chiến.

2. Nghề làm gốm

Cha ông ta có nghề làm gốm từ khoảng 5000 – 6000 năm trước với đồ đất nung. Ban đầu tổ tiên ta chưa có bàn xoay để nặn gốm mà đan khuôn nan tre theo hình thù mong muốn rồi trát đất vào trong. Sau khi phơi khô thì đem nung, độ lửa chưa cao và chưa đều, đồ gốm long ra khỏi khuôn. Đây là lý do mà đồ gốm thời này có những vết nan tre từ khuôn.

Cuối thời kỳ đồ đá mới thì hình dạng đồ gốm đã cân xứng hơn, quy mô lớn hơn. Tổ tiên ta đã biết pha vụn than và vụn thạch anh vào đất để hạn chế tình trạng đất sét bị gãy nứt do co lại đột ngột khi bị nung lên ở nhiệt độ tương đối cao. Lúc này thì hoa văn hình nan được đưa vào như một dấu hiệu thẩm mĩ thay vì là dấu vết của khuôn. Có nghĩa là lúc này, ta đã có tư duy về nghệ thuật.

Di tích Cổ Loa thời An Dương Vương còn nhiều đấu vết của gạch ngói cổ xưa (khoảng 2200-2300 năm về trước), có hai giếng khơi có đặt khuôn sành 5-7 tầng, đây là giếng cho hoàng gia dùng.

Ta bắt đầu biết làm men sứ dưới thời Bắc thuộc, loại men của người Việt có sự khác biệt với men xanh của người Hán. Đồ gốm bản địa phần lớn màu men trắng ngà và các đồ đựng thường không có quai giả như gốm Hán, màu men trắng ngà này còn để lại dấu vết trên đồ gốm thời Lý. Hoa văn có sự khác biệt khi có sự xuất hiện của voi (không phổ biến trong văn hoá Trung Quốc), hoa văn trống đồng.

Nghề gốm có bước nhảy vọt dưới thời Lý, Trần.
Thời Lý: thanh, mỏng, nhẹ, men trắng ngà / vàng, hoa văn hoa sen đa dạng, men mỏng tinh xảo, có khắc chìm; đặc biệt, thời này ta làm ra men xanh trong như ngọc. Tìm thấy đồ sành sứ thời Lý ở cảng Vân Đồn, có thể ta đã xuất khẩu từ thời đó. Men xanh thời lý khác với men xanh nổi tiếng của nhà Tống dù cùng thời. Độ khó: cốt (phần xương) cần chín (lửa cao) nhưng men lại chịu lửa kém hơn; chọn loại đất sét làm cốt để thích hợp với men là điều khó.

Đồ gốm thời Trần mang đúng tinh thần dân tộc thời kỳ đó với vóc dáng to tròn, cao, vững, hoa văn cũng mang đậm tinh thần thượng võ, khoáng đạt.

Thời Lê Sơ đánh dấu sự phát triển phồn vinh của làng Bát Tràng. Thời này cũng xuất hiện nhiều đồ gốm có nước men trắng trong với nét vẽ màu xanh chàm. Thời này đồ gốm cao cấp vẫn xuất khẩu qua hải cảng Vân Đồn.

Các trung tâm làng gốm ở miền Bắc có Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng. Ở Thanh Hoá có loại đất đặc biệt làm sành đỏ làm chum lớn đựng tới mấy trăm lít. Nghệ An có nghề làm nồi đất lâu đời. Quảng Ngãi nổi tiếng với choé và độc bình. Bình Định sản xuất đôn, chậu hoa tráng men màu nổi tiếng Nam Trung bộ. Nam bộ có sành trắng tráng và sành xốp tráng men của Lái Thiêu. Đồng bào Thượng ở Tây Nguyên có gốm đen.

3. Nghề làm vải

Thời kỳ đầu của dân tộc, nhân dân lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu (sách Lĩnh Nam Chích Quái). Có lẽ khi đó các bộ tộc Việt đã bóc vỏ cây sui, đập ra cho mềm mà dùng để mặc và làm chăn. Vải chuối tiêu (tiêu cát) làm bằng sơi tước từ cây chuối tiêu có màu vàng, đẹp nhưng dễ rách.

Vải bông

Việt Nam có thể có bông từ công nguyên, trước nhiều nước khác trong khu vực.
Quy trình: Gieo hạt bông, hái bông, cán bông, kéo sợi, hồ sợi, dàn sợi lên khung cửi, dệt thành tấm vải
Các loại vải: sồi, đũi, nái, lụa, the, vân, lĩnh, nhiễu, là, sa, đoạn, gấm
Cây sui: bóc vỏ cây, giã nện cho mỏng và mềm rồi căng thẳng ra như chăn bông, làm đồ mặc rất ấm
2 loại vải này có lẽ từ trước bắc thuộc đã có, người Mường có vải tiêu cát

Vải lụa

Vải cát bá nhỏ có từ thế kỷ thứ 3, mềm mại và nhẵn nhụi, là một loại cống phẩm cho triều đình phương Bắc.
Truyền thuyết bà tổ nghề làng dệt Vạn Phúc là cô gái từ thế kỷ thứ 9.
Nghề dệt lụa phát triển mạnh dưới thời Lý, còn dùng như tiền tệ trong việc nộp thuế và trao đổi mua bán hàng hoá. Vải lụa nhiều đến mức có thể thay thế được lụa mua của nhà Tống, quan phục là lụa, gấm sản xuất trong nước.
Thời Trần cải tiến cách pha chế và nhuộm ngũ sắc.
Thời Hậu Lê có những trung tâm dệt nổi tiếng với đặc sản quý. Thời này, thợ của ta đã sản xuất được một số hàng sợi bông trông gần như dạ và nỉ hiện đại gọi là nuy đoạn hoặc thung thúc. Làng Bưởi có lĩnh hoa chanh là sản phẩm dệt tơ đen, dày dặn nhưng không thô, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm những chấm hoa mịn màng, kính đáo, kỹ thuật phức tạp. Nhuộm cũng phức tạp: nhuộm và giặt 35 lần trong 7 ngày, sau đó đem hồ để tăng sức bền của sợi rồi lấy chày ghè cho mềm. Người ta thường mua lĩnh mộc của vùng Bưởi gửi đi Sài Gòn hay Huế để nhồi tía rồi mới bán ra thị trường để mặc gọi là lĩnh tía.
Câu chuyện mình khá thích:
Giữa làng Bưởi với làng Kẻ Đơ, từ trong quá khứ xa xăm, đã có một mối quan hệ lý thú xung quanh nghề dệt. Kẻ Đơ còn có tên là làng Triều Khúc, ở gần ngã ba Thanh Xuân, trên đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Kẻ Đơ xưa là làng chuyên dệt quai thao để mắc vào những chiếc nón lá làm duyên cho các cô gái từ thôn quê đến kinh kỳ.
Các cụ già ở đất Thăng Long còn truyền lại cho con cháu rằng xưa kia, dân Kẻ Bưởi chuyên dệt lĩnh. Khi quay tơ gặp những sợi tơ sần có mốt cục (nốt cục), không dùng dệt lĩnh được nhưng chẳng bao giờ vứt bỏ đi cả. Dân Kẻ Bưởi cất dành tơ mốt cục cho một người tri kỷ trong nghề tơ sợi, đó là dân Kẻ Đơ – Triều Khúc. Một cục của làng Bưởi chỉ có trao cho các cô nàng khéo tay ở Kẻ Đơ dệt quai thao thì mới xứng.

Tổ nghề sớm nhất của nghề dệt được nhắc đến trong truyền thuyết là công chúa Thiệu Hoa con vua Hùng Vương. Làng Bùng ở Hà Tây cũ thờ ông tổ nghề dệt lượt là Phùng Khắc Khoan.

4. Nghề thêu

Ông tổ nghề thêu và làm lọng là Lê Công Hành, đền thờ ở ngõ Yên Thái, Hà Nội, đỗ tiến sĩ đời vua Lê Chân Tông. Khi đi sứ sang Trung Quốc, ông bị nhốt trên một cái đài cao, trong lúc buồn chán đã tháo hình thêu trên bức nghi môn và cái lọng trang trí để tìm hiểu cách thêu. Sau đó, ông dùng cái lọng làm dù để xuống đất. Sau này khi về nước, ông đem nghề thêu và làm lọng dạy cho dân làng Quất Động rồi nghề dần phát triển sang các làng khác. Trước đó thì nước ta đã có lọng từ thời Trần.

Nghề thêu các thế kỷ trước đó còn đơn sơ với chỉ ngũ sắc và chỉ kim tuyến, phục vụ vua quan, nhà chùa.

5. Nghề làm giấy

Từ thế kỷ 4, học giả Trung Quốc đã ghi chép về thứ giấy thơm của Giao Chỉ tên là “mật hương”, làm bằng gỗ cây trầm: màu trắng, có vân như vẩy cá, mùi rất thơm tho, bỏ xuống nước cũng không nát. Một học giả khác ghi lại tổ tiên đã biết dùng rong rêu lấy dưới biển về làm một thứ giấy gọi là “giấy trắc lý”.
Làng Dịch Vọng ở Cầu Giấy ở ngoại ô phía Tây kinh đô Thăng Long được ghi lại có nghề làm giấy từ cuối thời Lý, đầu thời Trần. Thế kỷ có một phường làm giấy khác là Yên Thái cạnh Hồ Tây. “Nhịp chày Yên Thái” chính là nhịp chày giã vỏ dó để làm giấy.

Vào thế kỷ 18, Vân Đài Loại Ngữ ghi lại dân gian dùng vỏ cây dó và cây thượng lục để làm giấy. Cây thượng lục là thứ cây hiếm nhưng có thể tạo loại giấy đặc biệt vừa bền dai, vừa trắng sáng, thuộc hạng giấy tốt nhất.

Giấy dó

Cây dó dược chuyển từ rừng trên mạn Yên Bái, Phú Thọ theo sông Lô, sông Thao về Hà Nội.
Quy trình:
Sơ chế: ngâm nước –> ngâm nước vôi loãng –> nấu cách thuỷ –> ngâm nước vôi loãng lần 2 –> bóc vỏ đen, giữ vỏ trắng.
Tinh chế: giã vỏ dó ra thành bùn trắng –> pha vào tàu seo có nhựa cây mò làm keo, trộn thành nước đặc –> tráng thành giấy –> úp vải lên –> xếp lên tập giấy ướt.
Làm khô: tập giấy ướt đủ dày –> mang đi ép cho khô –> bóc uốn (can) –> phết lên tường, là cho phẳng.
Con gái trẻ seo giấy, các bà các cô các chị can giấy. Công việc khá vất vả.

Các loại giấy khác

Giấy Nghè: có từ thời nhà Lý, trên nền có nổi lên mờ mờ hình rồng phun mây, dành riêng cho nhà vua viết các tờ sắc phong.
Dân Bắc Ninh còn làm giấy bằng vỏ cây dâu để in tranh khắc gỗ dân gian.
Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh xưa kia có 1 số phường làm được giấy nhũ tương, cầm lên tay thấy óng ánh những hạt màu bạc, vàng, dùng để viết những câu đối quý và đã có một thời gian trở thành hàng xuất khẩu.

6. Nghề làm tranh dân gian

Tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam có 2 dòng lớn: tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Không ít nhà nghiên cứu nghiêng về giả thuyết cho rằng nghề này có thể manh nha từ thời nhà Lý và phát triển tới mức thành một nghề hẳn hoi khoảng thế kỷ 15 – 16 .

Tranh Đông Hồ

Làng Đông Hồ (còn gọi là làng Hồ) ở gần sông Đuống ngày nay, thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Ngay gần làng Hồ cũng có làng Quả với nghề làm bút lông và mực đen màu tro, sản xuất từ lá tre; làng Kẻ Nía với nghề làm vàng hương, làng Đạo Tú với nghề làm chất điệp, thường cung cấp cho làng Hồ in tranh khắc gỗ mùa xuân.

Thợ thủ công in tranh Đông Hồ trong mỗi tháng của năm đều biết rõ họ phải làm gì để chuẩn bị cho mùa tranh năm tới. Tháng 3, tháng 4 âm lịch bắt đầu rục rịch chuẩn bị cho mùa tranh Tết năm sau: ra mẫu mới hoặc chỉnh lý lại các mẫu cũ; gọt, mài những tấm gỗ thị chuẩn bị khắc những ván in nét.

Để có một bản ván khắc nét bằng gỗ thị: Cây thị sau khi được hạ xuống thì để hàng năm trời cho khô đi rồi mới đem xẻ nhỏ và bào trơn để làm bản khắc nét, không bị mọt, có thể được lưu giữ tới hàng trăm năm. Một số thợ Đông Hồ cũng khắc trên gỗ mỡ, gỗ giổi – mềm mịn hơn gỗ thị. Số lượng ván in bằng số lượng màu trên tranh. Phần ván in màu phải đem ngâm vào trong nước mới khỏi bị thấm hút hoặc phai nhạt và không làm lạc mất màu sắc đã pha. Có một số thợ khắc tranh Đông Hồ không cần bản mẫu mà trực tiếp đục thẳng vào ván gỗ mà vẫn giữ đường nét mềm mại, vững vàng.

Trên nền giấy dó hoặc giấy vỏ dâu, những người làm tranh thường quét phủ lên một lượt chất điệp trắng óng ánh. Hạt dành dành hoặc hoa hoè tạo thành màu vàng đậm và sáng. Lá chàm cho màu lam để in màu lá dáy và những hình âm dương trên tranh lợn ăn lá dáy. Từ màu rỉ đồng, có thể pha chế một loạt cung bậc khác nhau của màu xanh từ hoa lý, lá mạ, màu nước biển… Đá và sỏi cho màu nâu, nâu đất hay nâu cánh kiến. Vỏ cây vang hoặc quả gấc chế ra màu đỏ gấc. Từ màu đỏ gấc, có thể có màu hoa đào, màu cánh sen, hoa hiên, đỏ điều và nhiều cung bấc khác nhau của màu đỏ. Màu đen được làm ra từ rơm cói và lá tre.

Tranh hàng Trống

Tranh Hàng Trống được ước đoán ra đời muộn hơn Đông Hồ. Ở Hàng Trống, việc tô màu do bàn tay nghệ nhân trực tiếp phụ trách trên từng tờ tranh. Các phường in tranh chỉ khắc bản gỗ nét của tranh. So với Đông Hồ, những nét vẽ của tranh Hàng Trống có phần tinh vi hơn, điêu luyện hơn, ở một số tranh thì việc sử dụng hoà sắc êm ái hơn, góp phần đem tới những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, tạo ra vẻ đa dạng của tranh dân gian khắc gỗ Việt Nam.

Các loại tranh khác

Tranh đỏ Kim Hoàng in trên giấy tầu vàng, hồng điều là loại giấy màu bán sẵn ở Hàng Ngang. Phần màu có dùng các loại: trắng, hồng, đỏ sẫm, sa thanh (xanh lơ), sa lục (xanh lá cây), tím, vàng… Tranh đỏ Kim Hoàng cần chấm vẽ phẩm nhiều, hầu như chỉ có khâu in bản nét đen là làm hàng loạt.

Nghề in mộc bản

Ván khắc để in cần gỗ thớ nhỏ, mịn để khắc được nét nhỏ.
Gỗ thị, gỗ thừng mực dẻo, mịn, bền, không mọt, có thể để được cả trăm năm.
Quy trình khắc bản in: đánh nhẵn 2 mặt –> trát bản nét –> đánh giấy mỏng, nét rõ –> khắc theo nết trên giấy.
Quy trình in: quét mực lên ván khắc ==> đặt giấy lên ==> dùng xơ mướp xoa đều ==> bóc giấy ra

Thư bản khố là kho lưu trữ ván gỗ khắc. Trong sách có ghi nơi trữ bản khắc để tiện cho việc tái bản. Bản khắc là vốn lớn nhất của nhà in.
Thợ khắc là nam, thường ở làng, chỉ đi trả bản in hoặc sửa chữa khi cần.
Thợ in là nữ, thường sống theo tổ, ở đình, chùa để tiện giao tranh.

Các nhà in có thể thuộc sở hữu của nhà nước, nhà buôn, nhà nho. Riêng nhà nho thì thường có nhà in phục vụ cho việc nghiên cứu và sáng tác.

Nghề sơn ta

Người Việt từ hơn 2 ngàn năm trước đã biết dùng sơn lên gỗ, từ thế kỷ 3-4 trước công nguyên. nghề này phát triển mạnh ở thời Lý.

Quy trình sản xuất sơn:

Lấy nhựa: khía chéo thân cây sơn –> dùng vỏ trai hứng khoảng 2-3h –> vét. Việc này phải làm xong trước khi mặt trời mọc thì chất lượng mới tốt.

Tách lớp sơn: sơn hứng được để yên 2-4 tháng cho đứng rồi lấy ra. Từ trên xuống dưới có các lớp sau:

  • Lớp mặt dầu: lỏng, nâu, tốt nhất
  • Sơn giọi: chia làm sơn nhất, sơn nhì, chiếm 30-50%
  • Sơn thịt, sơn hom
  • Nước thép

Đây là sơn sống, muốn dùng thì phải làm chín.

  • Sơn quang dầu: trộn sơn với dầu trẩu
  • Sơn mài: trộn sơn với nhựa thông, tùng hương

Quấy sơn trộn trong nhiều giờ để loại nước và kích thích oxy hoá, từ đó sơn quánh lại như kem, sơn dễ khô hơn.

Nghệ thuật sơn mài bắt đầu từ năm 1932.

Những điểm đặc biệt của sơn ta:

  • Không bị hoá chất / côn trùng phá hại
  • Chịu nóng lên đến 250 độ C
  • Bóng mịn, chịu được axit, chịu được mặn (từng tìm thấy ở thuyền đắm sản phẩm phủ sơn ta cả trăm năm dưới biển mà vẫn đẹp)
  • Cách điện

Nghề khảm trai

Có từ thời Bắc thuộc, có tiếng từ thế kỷ 3-5.

Thời Trần tặng vua Nguyên (1289): trong nhiều bảo vật có đồ khảm vàng trên nhiều chất liệu như gỗ, sừng, ngà, đồng.

Chất liệu

  • Vỏ trai:
    • Trai cánh: mỏng vỏ, sẫm màu
    • Trai thịt: trắng
    • Trai nứa: trắng, mỏng mình
    • Trai Nông cống: nhiều vân, thâm thịt
    • Cửu khổng: vân + màu sắc phong phú, dùng làm mặt nổi
  • Ốc bể – ốc xà cừ
  • Hến bể: gọi là vỏ xác, trắng như tuyết, dùng để làm diện – khuôn mặt trong chân dung.

Dụng cụ để khảm

Cưa lưỡi nhỏ, giũa nhỏ dẹt, dao tách, trổ, cặp.

Công đoạn

  • Sáng tác bản vẽ
  • Mài, cưa, đục mảnh
  • Hạ mặt: dùng sơn ta gắn mảnh vào gỗ
  • Mài, đánh bóng

Đề tài ngày xưa: Tam Quốc, ước lệ (thông – mai – cúc – trúc, ngư – tiều – canh – độc)

Làm vũ khí

Nỏ liên châu:

  • Cánh nỏ lớn, cần nhiều người để giương, trên nỏ lắp 3-5 mũi tên lớn như mũi lao
  • Trên thành Cổ Loa có những dãy nỏ, khi bắn thì tên bay như mưa

Súng thần công (ra đời thời Trần – Hồ)

  • 1390 đánh vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga có hoả pháo trên thuyền
  • Có quan xưởng đúc súng

Súng thần cơ (thời Hồ): mang vác được, chỉ cần một người là bắn được.

Lý thú về địa danh ở thăng Long:

  • Xưởng đúc súng: Lò đúc
  • Trường bắn thử: Giảng Võ đường

Ta có pháo lớn trên thành, hoả pháo trên thuyền.

Sách có ghi lại 1 số công thức pha chế đạn ghém.

Thời Trần / Hồ có đúc nhiều ( khoảng 50) cỡ súng khác nhau.

Các nghề liên quan: luyện kim, khai thác mỏ, khai thác đá.

Nghề đóng thuyền

Có từ triều Lý: có nhiều đoàn thuyền vượt biển ra đảo, đến Chiêm Thành.

Các loại thuyền có buồm rộng: thuyền đinh, thuyền mành, buồm mông, buồm cánh dơi, buồm cánh én.

Các loại thợ:

  • Thợ chuyên đóng tàu –> phường hội ở làng mạc vùng sông nước
  • Nông / ngư dân có nghề phụ

Quy trình đóng thuyền (siêu sơ bộ) do trùm phường / thợ cả chỉ huy

  • Chọn / mua / khai thác gỗ
  • Thiết kế, thi công, xảm, hun
  • Hạ thủy

Bách tác tượng là những thợ thủ công chế tạo binh khí, đóng tàu thuyền của nhà nước, trong đó bao gồm những thợ giỏi bị nhà nước trưng tập vào quan xưởng và những người bị tội đồ bắt vào làm phụ việc như nô lệ.

Chế độ nhậm công: nhà nước thuê mướn thợ tự do vào làm trong quan xưởng.

Thuyền chiến thời Trần

  • Thuyền máy thần phi
    • hình dáng như thuyền đi biển, bọc da trâu sống hoặc phên tre đan dày để đỡ đạn
    • sườn có trổ lỗ châu mai để bắn súng /tên
    • có 3 tầng, có khoang kín để tinh binh nấp, cưỡi sóng rẽ gió đi rất nhanh
  • Thuyền mẫu tử:
    • Dài 3 trượng 5 thước, nhìn như 1 chiếc thuyền
    • Thuyền mẹ: 2 trượng, dáng thuyền thúng, không mái chèo, chất đầy cỏ khô, thuốc súng, củi khô, vật dẫn lửa, mũi và nách cắm đinh sói, lưng dựng thanh gang và sắt nhọn để cột chặt vào thuyền giặc rồi đốt cùng cháy
    • Thuyền con: 1 trượng 5 thước, là thuyền chiến kiên cố, có mái chèo, có chốt gắn vào thuyền mẹ. Khi đốt thuyền mẹ thì tháo chốt rồi nhảy sang thuyền
  • Thuyền liên hoàn: là 2 thuyền hoàn chỉnh móc chặt với nhau
    • Thuyền trước: chở hỏa pháo, súng hướng về phía trước, đinh ba thép bẻ quặt
    • Thuyền sau: có mái chèo, là thuyền chiến bình thường.
    • Đụng tàu giặc: mũi móc tự rời ra thành 2 thuyền chiến độc lập
  • Thuyền mông xung: thành trì nổi trên mặt nước
    • Khoang to, nhiều tầng cao chắc chắn, tên đạn không xuyên được
    • Có lỗ châu mai để bắn súng / cung
    • Gỗ tốt, thiết kế gọn nhẹ, kiên cố, lướt nước tốt, cơ động
  • Thuyền tẩu kha: thuyền lớn, rộng, quân chèo thuyền ở khoan kín
    • Đài chỉ huy ở cuối thuyền, khá cao để tướng vừa chỉ huy vừa lái thuyền
  • Thuyền tam khai lãng: mũi nhọn, trọng tải lớn, ăn sâu khoảng 3 thước nước, đi lại dễ dàng, dùng để đổ bộ 30-50 quân lính
  • Thuyền chài
    • Chở 3 người: 1 cầm buồm, 1 chèo lái, 1 cầm súng
    • Không lo chìm đắm, dễ tiến thoái, khó bắt
  • Lâu thuyền: pháo đài kiên cố nhiều tẩng nổi trên nước
  • Đầu thuyền: thuyền chiến lớn, quanh thân vẽ thủy quái
  • Chiến thuyền hải cốt: sạp rất rộng để quân giữ đội ngũ, hai bên có những cặp chèo khỏe đâm ra trông như xương 1 con hải quái
  • Du đĩnh: 5 tầng thành cao, ddùng cho tướng chỉ huy bằng cờ lệnh

Lần đầu đọc sách với Zettelkasten

Mình đọc xong “Truyện các ngành nghề” lúc nửa đêm hôm qua, chỉ kịp chụp lại bức hình này rồi phải đi ngủ để hôm nay còn làm việc. Đọc sách kiểu này trước khi đi ngủ thì thường thần kinh sẽ bị kích thích và khó ngủ ngay được lắm nhưng mà vì chẳng có lúc nào khác nên thôi kệ đi 😅

Trong hình là chiến lợi phẩm mình thu được từ cuốn sách: 7 ghi chép chỉn chu, 27 tờ giấy ghi lại ý tưởng và mấy chỗ đánh dấu để đọc lại chi tiết khi xem lại ý tưởng.

Việc đánh dấu các đoạn quan trọng để sau này quay lại đọc thì mình đã làm từ ngày xưa rồi. Nhưng tiên quyết là để biết sách nào đánh dấu về cái gì, ở đâu mà tìm đọc lại thì phải nhớ, mà mình thì nhớ rất tệ. Thế nên khi biết về phương pháp đọc zettelkasten thì mình quyết định thử bằng Obsidian trước. Có điều, từ lâu mình cũng biết là gõ máy tính không giúp mình ghi nhớ, mọi thứ sẽ nhanh chóng trôi tuột ra ngoài. Với mình thì chỉ có bút và giấy cùng với độ sần của bề mặt khi chúng chạm vào nhau mới đủ để tạo một chút nếp nhăn trong não được. Thế nên mình quyết định thử zettelkasten truyền thống, tức là viết tay.

Khi đọc, chỗ nào đáng chú ý thì mình dán một cái nhãn để đánh dấu khu vực, sau đó dùng bút chì gạch chân những chỗ quan trọng nhất. Do đang chuẩn bị cho ý tưởng mới nên mình ghi lại chi tiết vào một tờ giấy nhớ nhỏ màu trắng để sau này sắp xếp cho dễ. Cuối cùng, sau một chương mà cảm thấy có thể tự viết lại thông tin một cách rành mạch thì có thêm 1 tờ giấy ghi lại thông tin chính để có thể hình thành hệ thống kiến thức. Các tờ giấy ghi chép này thì mình chọn loại dày dặn và có màu để có thể chia loại theo màu sắc. Mình cũng thích dùng bút mực màu để ghi chép nữa, chứ chỉ có một màu mực đen thôi thì nhàm chán quá.

Điểm quan trọng là có một quyển sổ để ghi lại mối liên kết giữa các ghi chép, điều này giúp tạo nên mạng lưới kiến thức giống như cách bộ não chúng ta ghi nhớ.

Đọc theo cách này tốn công sức hơn so với việc ngồi thư giãn theo kiểu nắng đẹp gió nhẹ có cốc trà nghi ngút khá nhiều, vì mình lúc nào cũng lăm lăm tay bút tay giấy, thấy gì hay là ghi lại. Nó thật sự giống với việc ngồi học ấy. Giá mà hồi cấp 2 cấp 3 mình học theo cách này thì chắc giờ đầu óc cũng sáng sủa hơn nhiều 😆 Nhưng ở cái thời đại mà trí não bị phân tán bởi quá nhiều thứ từ mạng xã hội, email, video… và cả những nỗi lo đời thường thì cách đọc này buộc mình phải tập trung vào cuốn sách, nghiền ngẫm từng con chữ và hấp thụ được nhiều hơn.

Cách mình thực hiện Zettelkasten có lẽ không hoàn toàn tuân thủ theo phương pháp đầy đủ về nó, nhưng mình cảm thấy là nó đủ quyết liệt để mình phải tập trung, cũng đủ gọn nhẹ để dù có đi đâu thì mình vẫn đọc theo phương pháp được. Rốt cuộc thì chỉ cần một cái phong bì với ít giấy, mấy cái bút, nhãn đánh dấu và quyển sách là đủ.

“Truyện các ngành nghề” cho mình nhiều ý tưởng để xây dựng câu chuyện mới, đặc biệt là giúp mình mường tượng được một số chi tiết về cuộc sống xa xưa của người Việt, và danh sách 6 cuốn sách khác để tìm và tham khảo. Một trong những điểm mình không ngờ tới nhất là mình có rất nhiều note liên quan đến vũ khí, quân cảng, thuyền chiến của người Việt xưa, và Cổ Loa dường như có nhiều điểm thú vị mà sau này mình nhất định phải tìm hiểu.

Lâu rồi mới đọc một cuốn sách mà có được nhiều thu hoạch như vậy. Tin là nếu tiếp tục đọc theo cách này thì sự trân trọng của mình với những cuốn sách chỉ có tăng lên thôi 🥰