Biểu hiện sớm nhất về sự tồn tại của hệ thống luật pháp của Việt Nam, được phản ánh thông qua hệ thống đơn vị hành chính, là từ thời Trưng Vương, được nhắc tới trong sách Hậu Hán Thư của Trung Quốc.
Thời Bắc thuộc, Việt Nam bị chi phối bởi các bộ luật của nhà Hán và nhà Đường.
Triều Đinh và Ngô có các bộ luật trừng trị rất nghiêm khắc.
Bộ luật có quy củ đầu tiên là Hình Thư được ban hành dưới thời vua Lý Thái Tông. Nhà Trần sau đó soạn Quốc triều hình luật cũng có những hình phạt rất tàn khốc.
Vua Lê Thánh Tông ban hành Quốc triều hình luật (gọi ngắn là luật Hồng Đức) có trên 700 điều, chịu ảnh hưởng của luật nhà Đường nhưng được điều chỉnh cho phù hợp xã hội Việt Nam. Việc củng cố pháp luật phần nào bị mai một trong thời Mạc và hai chúa.
Thời Hậu Lê chia hình phạt làm ngũ hình: xuy (đánh roi), trượng (đánh gậy), đồ (làm việc nặng), lưu (đi đày), tử (xử chết).
Bộ luật Hồng Đức có tính nhân văn và tiến bộ riêng:
- Có hình phạt cho tội bất hiếu, loạn luân
- Quyền lợi của người phụ nữ được bảo vệ:
- Đã làm lễ hỏi xong thì không được để 3 4 năm sau mới rước dâu
- Chồng không được bỏ vợ trừ phi thất xuất
- Phụ nữ được bảo vệ khi đến nơi hàng quán xa lạ. Nếu bị hà hiếp, ô nhục thì chủ nhà bị phạt cùng với kẻ phạm tội.
- Quan lại
- Không được sách nhiều dân chúng
- Không được tặng quà, giao hảo với nhau.
- Quan lại bỏ bê trách nhiệm không tra xét cũng bị xử phạt. Quan chăm lo bảo ban dân chúng sẽ được xét thưởng, bỏ bê lười biếng sẽ bị xử phạt.
- Kỳ hạn xử lý sự vụ rõ ràng: vụ nhỏ 5 ngày, vụ lớn 10 ngày.
- Có bộ luật tố tụng tên là Quốc triều khán tụng điều lệ gồm 31 chương, đi trước Trung Quốc.
Có một điểm không được đánh giá cao là cho phép người ta chuộc tội bằng tiền: người địa vị càng cao thì giá chuộc càng đắt, kể cả với tội giết người. Đến thời chúa Trịnh Tạc thì bỏ lệ này.
Triệu Nguyễn có ban hành Hoàng Việt luật lệ dưới thời vua Gia Long, gọi ngắn là luật Gia Long. Bộ luật này bị các nhà luật học về sau phê bình là chịu quá nhiều ảnh hưởng, gần như sao chép hoàn toàn luật của nhà Thanh, mất đi tính đặc thù của pháp luật Việt Nam cũng như là không phản ánh hình thái xã hội Việt Nam.
Luật Gia long gồm 22 quyển, 398 điều, phân chia theo lục bộ. Luật này thay ngũ hình thời Lê thành các hình phạt ít tàn khốc hơn.
Thời này còn có lệ “tam ban triều điển” để thanh toán vua quan: người chịu phạt phải chọn đoản kiếm, thuốc độc, vuông lụa để tự kết liễu. Vua Hiệp Hòa là một ví dụ khi bị khép tội “tư thông với giặc”.
Án Tử có 3 hình thức: giảo (treo cổ), lăng trì (lóc thịt, chặt tay chân), trảm (chém đầu). Giảo và Trả thường được tạm treo, đa số về sau được ân xá thành án lưu đày, xiêng xức, gông cùm thời hạn dài. Lăng trì thường được áp dụng cho phản loạn.
Thực dân Pháp sau khi đã ổn định việc cai trị thì củng cố tổ chức tư pháp, lập ra tòa án.
Ghi chú: Sau này có thể tham khảo so sánh giữa luật Hồng Đức và luật Gia Long về các chi tiết liên quan đến phụ nữ. Có vẻ ở đây sự chuyển dịch về pháp luật không đi theo mà dẫn đến sự chuyển dịch về văn hóa khi vai trò và quyền lợi của người phụ nữ bị giới hạn khắc nghiệt hơn. Ngoài ra, quyền phụ nữ trước thời điểm luật Hồng Đức ra đời, tức là trước thuộc Minh và trong thời kỳ thuộc Minh, có thể cũng sẽ có khoảng cách với thời Lê. Cái mình muốn tìm ra là liệu thời Lê có phải là triều đại tân tiến về thái độ với phụ nữ không, hay nó đã thừa hưởng từ trước đó.
Published by