Ghi chép đọc sách “Xã hội Việt Nam thời Lê-Nguyễn” – Binh chế

Thời Đinh Tiên Hoàng 1 đạo = 10 quân = 100 lữ = 1000 tốt = 10.000 ngũ = 100.000 người. Vua Lê Đại Hành Lê Hoàn là Thập đạo tướng quân, quản lý 1 triệu quân.

Lê Lợi khi đánh đuổi quân Minh có 25 vạn quân: 15 vạn về làm ruộng, 10 vạn ở lại chia làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây.
Vua Lê Thánh Tông định phép duyệt tuyển: 3 năm làm lại hộ tịch – tiểu điển, mỗi 6 năm có đại điển, chia dân binh thành các hạng, phép tuyển rõ ràng.

Chúa Trịnh đặt ra 2 thứ quân: Ưu binh ở kinh thành, Nhất binh ở các trấn.
Binh chia thành nhiều cơ, mỗi cơ 200 quân: 100 tại ngũ, 100 làm ruộng, luân phiên.
Chúa Trịnh Cương lập phép mộ lính: tình nguyện làm lính thì được cấp ruộng. Thời Trịnh Khương thì bãi bỏ.

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đặt phép duyệt tuyển tương tự thời Hồng Đức Lê Thánh Tông. Thời chúa Nguyễn có khoảng 30.000 quân, có 5 cơ: Trung, Tả, Hữu, Tiền, Hậu.

Triều Nguyễn ưu tiên tuyển quân nhà giàu có nhiều đinh mạnh khỏe. Lính đào ngũ chưa bắt được thì cha/con/anh em/họ hàng bị bắt thay, bị bắt được lần 1 đánh 90 roi, tái phạm xử chém.
Quân chia 5 đạo: trung, tiền, hậu, tả, hữu, đứng đầu là Đô thống Chưởng phủ sự.
Kinh binh ở kinh thành Huế gồm Thân binh, Cấm binh và Tinh binh, phân thành doanh = 5 vệ = 500 đội = 25000 người.
Phục vụ vua có Cẩm y, Kim ngô, Loan giá, Thị vệ. Bảo vệ kinh thành có Thần cơ, Tiên phong, Long võ, Hổ oai, Hùng nhuệ.
Quân đóng ở trấn (sau là tỉnh) quân chia thành Vệ và Cơ.
Quân triều Nguyễn chia 3: 1 phần tại ngũ, 2 phần về quê và luân phiên nhau, gọi là biền binh.
Có bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh, pháo thủ binh.
Quân nhà Nguyễn đầu thế kỷ 20 có khoảng 80.000 người, khi cần có thể tăng lên 200.000 thời chiến (biền binh).
Nguyên tắc “động vi binh, tĩnh vi dân” hay “ngụ binh ư nông”.
Thời này có 2 nạn: đi lính thay và đào ngũ.

Võ quan
Hậu Lê: cao nhất là ngũ phủ (trung, đông, tây, nam, bắc quân), đứng đầu là đô đốc phủ có tả hữu đô đốc. Chúa Trịnh Tạc đăt thêm Chưởng phủ sự và Thự phủ sự.
Thời Lê-Trịnh, nội giám rất được tin dùng cho một thời gian.

Triều Nguyễn, văn võ quan cùng có 9 cấp, mỗi phẩm cấp có 2 bậc chánh & tòng.
Quan võ nhất phẩm có Đô thống (tòng nhất phẩm) ở kinh đô trông coi các doanh. Đứng đầu doanh là Chưởng vệ (tòng nhị phẩm), đứng đầu vệ là một Vệ úy (chánh tam phẩm), đứng đầu đội là Chánh đội trưởng suất đội (tòng ngũ phẩm). Quan đứng đầu các tỉnh là là Lãnh binh, chánh tam phẩm. Tỉnh thành lớn có thể có Đề đốc (vd Hà Nội) Tòng nhị phẩm, bằng Tuần phủ và Tham tri. Quân tỉnh chia ra Cơ – đứng đầu là quản cơ (chánh tứ phẩm), và Đội – đứng đầu là Suất đội (tòng ngũ phẩm). Thời này người ta trọng văn hơn võ, lý do là vì quan võ chánh tam phẩm cũng chưa chắc biết nhiều chữ.

Thi võ
Trước thời vua Lê Dụ Tông việc học võ là tự phát, triều đình không mở trường đào tạo và tuyển nhân tài.
Chúa Trịnh Cương mở trường dạy võ đầu tiên. Người phụ trách là các quan Giáo thụ, dạy cho con cháu công thần và quan lại. 2 mùa trong năm: đại tập (4 tháng trọng trong năm tháng 2, 5, 8, 11) tiểu tập (những tháng còn lại của xuân và thu).
Xuân – thu tập võ nghệ, hạ – đông học văn.
3 năm thi võ 1 lần, ai biết võ đều có thể tham gia.
Hỏi về Tôn Tử binh pháp, qua thì vào thi võ nghệ: cưỡi ngựa, múa mâu, đánh kiếm có múa khiên, múa đao. Cuối cùng thi về chiến lược. Qua (gọi là trúng cách) sẽ vào sân phủ chúa thi phúc hạch, xếp hạng và được bổ dụng.

Thời Nguyễn Minh Mạng có tổ chức thi võ nghệ, thi Hương vào các năm Dần, Thân, Tị Hợi, thi Hội vào Tí, Ngọ, Mão, Dậu.
Thi Hương:

  • Kỳ 1: xách tạ và múa côn sắt
  • Kỳ 2: đánh côn gỗ, đao pháp
  • Kỳ 3: bắn súng
    Chấm: ưu, bình, thứ, liệt.
    Đỗ cả 3 kỳ gọi là võ cử nhân, đỗ 2 kỳ gọi là võ tú tài.

Thi Hội cũng 3 kỳ như thi Hương và có thêm vòng thi Đình cho người qua cả 3 kỳ, yêu cầu cao hơn: tạ nặng hơn, chạy dài hơn, đích bắn súng đặt xa hơn.
Thi Đình hỏi về cách dụng binh từ Võ kinh và Tứ tử. Ai đỗ thì được võ tiến sĩ. Ai trúng truyển thi Hội nhưng không nhiều chữ thi viết được thì gọi là võ phó bảng.
Kỳ thi Đình năm 1880:

  • 18 món binh khí, sử dụng binh khí thật, sai một bài là hỏng
  • Đấu quyền với 5 lính ngự lâm được tuyển chọn. Thắng 3 người trở lên thì được ưu / bình, ít hơn thì hỏng. Lính ngự lâm mà để thua thí sinh thì bị phạt lương 9 tháng.
  • Đấu roi, côn với 5 lính ngự lâm tương tự đấu quyền
  • Đấu binh khí (tùy chọn) với 5 lính ngự lâm, thắng 3 trở lên thì đỗ.
    Sau khi thi xong thì được ban yến, ăn xong thì thi đối sách, có thể có thư ký viết bài thi hộ nếu viết chậm.
    Thi bắn súng: được bắn 9 phát, phải trúng đích tối thiểu 3.
    tên người đỗ được viết trên bảng có vẽ rồng, gọi là truyền lô. Bảng này được niêm yết ở Phu Văn Lâu trước thiên hạ. Tân khoa được ban mũ, áo bào màu lam, vào điện Thái Hòa dự yến và tạ ơn. Có ban cờ biển và vinh quy 3 tháng, Tổng đốc và quan Đề đốc phải mang lính, voi ngựa ra ngoài 3 trạm đón tiếp võ tân khoa.
    Tam giáp: Võ tiến sĩ cập đệ, Võ tiến sĩ xuất thân, Võ tiến sĩ đồng xuất thân, đỗ vớt gọi là phó bảng.

Trước thời Nguyễn trọng văn khinh võ: quan văn sang làm quan võ thì cha bị phạt 50 quan tiền và bị hạ cấp, quan võ sang quan văn thì cha được thưởng 50 quan tiền.

Ghi chú: Tìm hiểu sự trọng văn khinh võ là từ thời nào và nó biểu hiện cụ thể sao.

Published by

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *